Wednesday, June 29, 2016

KHUÔNG VIỆT ĐẠI SƯ (Ngô Chân Lưu, 933 – 1011)


Danh tăng đời nhà Đinh, pháp danh là Chân Lưu, không rõ tên thật của ông, lúc nhỏ ông theo học nho, sau đó ông đi tu theo dòng thiền Quang Bích ở chùa Khai Quốc, Ông nổi tiếng là người tinh thông Phật học và thông hiểu việc chính trị nên được vua Đinh Tiên Hoàng* trọng dụng và tin dùng. Năm 971 Ngô Chân Lưu được vua ban hiệu là Khuông Việt Đại Sư và giao cho giữ chức Tăng thống, đứng đầu các tăng lữ, hệ thống tăng quan trong triều. Ông thường tham dự việc triều chính, làm cố vấn cho vua. Dưới triều Lê, ông vẫn tiếp tục làm Quốc sư cho vua Lê Đại Hành*. Ông đóng góp nhiều ý kiến quan trọng giúp vua Lê Đại Hành trong cuộc kháng chiens chống quân Tống và sau đó thường giúp vua tiếp các sứ thần nước ngoài.
Ngô Chân Lưu còn là một nhà thơ. Tác phẩm nổi tiếng còn lại của ông là bài Vương Lang Quy. Đó là bài thơ ông vâng mệnh vua Lê Đại Hành làm để tiễn sứ thần nhà Tống là Lý Giác (năm 987).
Lê Quý Đôn đã viết về ông: “Chân Lưu từ điệu danh chấn nhất thời” (Điệu ca của Ngô Chân Lưu đã nổi danh một thời).

L.V.N.

Saturday, June 25, 2016

PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG CHỐNG PHÁP CỦA NHÂN DÂN Ở THANH HÓA



Thạc sĩ Vũ Quý Thuß

Cuộc phản công kinh thành của Tôn Thất Thuyết là sự “trỗi dậy” cuối cùng của triều đình phong kiến Nguyễn, trước nguy cơ mất hết quyền lợi thống trị của mình. Tuy nhiên nó cũng thể hiện tinh thần yêu nước, quyết tâm chiến đấu của một số quan lại không chịu đầu hàng. Vì vậy nhân dân ủng hộ và hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương, “Cần Vương” ở đây không phải là khôi phục triều đình phong kiến đã đầu hàng mà ủng hộ một ông vua và quan lại yêu nước chống Pháp, bảo vệ tổ quốc.
Chiếu Cần Vương ban hành đã nhanh chóng thổi bùng một đợt mới ngọn lửa kháng Pháp. Hưởng ứng chiếu Cần Vương, cả một lớp sĩ phu, văn thân yêu nước hăng hái đứng dậy chiêu mộ nghĩa sĩ, lập đồn trại kháng chiến, lãnh đạo phong trào đấu tranh với mục tiêu “Giúp vua cứu nước” (Thực chất là phong trào giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ một ông vua yêu nước).
Phong trào Cần Vương kéo dài 12 năm (1885 – 1896), nổ ra trên phạm vi rộng lớn, từ cực Nam Trung Bộ chạy dài tới biên giới Việt – Trung, lan rộng tới biên giới Việt lào, kể cả ở Nam Bộ lúc bấy giờ. Phong trào rộng khắp và sôi nổi nhất là từ giữa năm 1885 đến cuối 1888. Sau thời kỳ phát triển rầm rộ và rộng khắp, phong trào Cần Vươn thu hẹp dần, trungta6m phong trào chuyển lên vùng thượng du và trung du. Những năm còn lại là cuộc khởi nghĩa lớn, có trình độ tổ chức cao, có địa bàn hoạt động rộng.
Thành phần tham gia gồm bộ phận văn thân, sĩ phu yêu nước, kể cả tri thức phong kiến yêu nước, các quan lại phong kiến yêu nước đương quyền hay đã nghĩ hưu (hữu quan. Họ không có đặc quyền đặc lợi ở triều đình, cũng không có gia tư, điền sản lớn ở nông thôn. Trong quan niệm của họ, nước phải gắn liền với vua, với chế độ phong kiến.
Các văn th6n, sĩ phu yêu nước lại được sống gần gũi với dân, tiếp thu truyền thống dân tộc, nên sớm được cuốn hút vào cuộc đấu tranh của nhân dân. Khi triều đình đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp (1884), họ không còn trung vua nữa, mà chống lại lệnh vua để cùng nhân dân tiếp tục kháng chiến. Nhất là sau cuộc nổi dậy ở kinh thành Huế thất bại (7 – 1885), rồi vua Hàm Nghi xuất bôn, ra chiếu Cần Vương (7 – 1885), các văn thân sĩ phu yêu nước mới thật sự tham gia đông đảo và quyết liệt. Họ là đối tượng kêu gọi ứng nghĩa trước tiên và lúc này “ái quốc” mới thật sự gắn liền với “teungqua6n” điều mà trước đó khó xảy ra được đối với những ông phản phúc.
SAu thời kỳ phát triển rầm rộ và rộng khắp (1885 – 1888) phong trào Cần Vương thu hẹp dần và đi vào chiều sâu. Các cuộc khởi nghĩa tiêu biễu là khởi nghĩa Hương Khê – Hà Tĩnh (1885 – 1886) của Phan Đình Phùng và cao Thắng; khởi nghĩa Ba Đình – Thanh Hóa (1886 – 1887) của Phạm Bành và Đinh Công Tráng; khởi nghĩa Hùng Lĩnh – Thanh Hóa (1886 – 1892) của Tống Duy Tân và Cao Điền; khởi nghĩa Bãi Sậy – Hưng Sơn (1883 – 1892) của Nguyễn Thiện Thuật; ngoài ra còn có phong trào Tây Bắc và hạ lưu sông Đả…
Phong trào yêu nước chống Pháp lúc bấy giờ lan nhanh đến Thanh Hóa.
Thanh Hóa – một xứ có tầm quan trọng ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào, đã có rất sớm trong phong trào chống Pháp.
“Thanh Hóa tỉnh chí” đã ghi chép vị trí chiến lược của Thanh Hóa “Thiệt là chỗ làm cuống họng cho các tỉnh Bắn Kỳ hiện nay. Thanh Hóa lại là nơi hình mạch hướng vào, thế lớn nhóm lên vậy”[1].
Nguyễn Lộ Trạch (1852 – 1895), nhà tri thức yêu nước có tư tưởng cải cách của thế kỷ XIX, đã nói về vị trí của Thanh Hóa như sau:
Tôn Thất Thuyết khi làm quan ở Thanh Hóa đã sớm chú ý tới miền đất “thánh địa” này. Năm 1879, ông đã từng bổ nhiệm Tống Duy Tân làm Chánh sứ Sơn Phòng Quảng Hóa (Vĩnh Lộc) như có ý đồ chuẩn bị trước lực lượng chống Pháp, người mà sau này trở thành thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Khi phò xa giá Hàm Nghi xuất bôn, Tôn Thất Thuyết đã định xây dựng Thanh Hóa thành thủ đô kháng chiến. Hàm Nghi trong tờ chiếu ngày 19 – 9 – 1885 cũng nói “Trẫm sẽ đóng đô tại tỉnh Thanh Hóa. Đây là một địa điểm quý”[2].
“Thanh Hóa là một vùng đất có đủ 3 điều lợi cơ bản cho việc giữ nước chống giặc: địa điểm, binh lực và trí lực”.
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, Thanh Hóa nhanh chóng trở thành một tỉnh có phong trào chống Pháp mạnh mẽ do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo, một phong trào trải dài từ miền núi, trung du tới đồng bằng miền biển.
Chiếm xong kinh đô Huế (5 – 7 -1885), bọn Pháp đem quân đổ bộ đánh chiếm Quảng Trị và đưa tàu chiến từ Huế đánh chiếm Nghệ An. Đồng thời một đạo quân Pháp do thiếu úy Mignot chỉ huy xuất phát từ Ninh Bình ngày 22 - 11 – 1885 tiến vào của Hới lên Hàm Rồng đánh chiếm thành Thanh Hóa. Bố chánh Nguyễn Khoa Luật được sự hưởng ưng của nghĩa quân Hoằng Hóa do Nguyễn Đôn Tiết, Lê Tri Trực chỉ huy đã bố trí đánh địch dọc sông Mã và đoạn đường từ sông vào tỉnh lỵ. Khi chiếu Cần Vương đến Thanh Hóa thì phong trào càng rộng khắp và mạnh mẽ.
Tôn Thất Hàm (em Tôn Thất Thuyết) đang là tri phủ Nông Cống cùng Nguyễn Quý Yêm bỏ quan chức phối hợp với nghĩa quân Tĩnh Gia của Nguyễn Phương Nghĩa, quân vùng núi Nửa của Lê Ngọc Toản hoạt động ở Tỳ Thượng (địa điểm giáp giới Nông Cống – Nghệ An), đóng căn cứ vùng Đồng Mười huyện Như Xuân để đón vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết.
Vùng núi Hoàng, núi Vượng, Hồi Cù có Tuấn Văn, tại huyện Đông Sơn có Lê Khắc Thảo quê ở Bái Giao (nay là xã Thiệu Giao – Thiệu Hoa tổ chức nghĩa binh phối hợp với Nguyễn Hữu Liên (tức Tú Mềm người Đại Bái). Nguyễn Hữu Hanh, La Văn Hạnh, La Đức Tứ, La Duy Hoành, Thiếu Giá thành lập đội nghĩa quân tại Bôn (nay đã là xã Đông Thanh – huyện Đông Sơn).
Nghĩa quân Nguyễn Thế Sanh, Thiều Kim Nễ ở làng Viện Giàng, Nguyễn Trọng Tần ở làng Phù Lưu (cầu Trâu) có căn cứ vùng núi Nhồi liên hệ với nghĩa quân nhiều nơi khác tronh tỉnh. Phong trào chống Pháp nhanh chóng lan rộng ra khắp tỉnh.
Tuy phong trào Cần Vương, chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa lúc bấy giờ nổi bật là cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Ngọc Phương  (Tú Phương) lãnh đạo với căn cứ Ổn Lâm – Kỳ Thượng.
Việc xây dựng căn cứ Ổn Lâm – Kỳ Thượng có ý nghĩa quan trong trong phong trào Cần Vương lúc này, nhằm thống nhất các lực lượng ở huyện, hình thành bộ chỉ huy nghĩa quân, đưa phong trào tiến lên giai đoạn mới.
Căn cứ Ổn Lâm – Kỳ Thượng nổi lên ở một vùng nam Thanh Hóa, giáp Nghệ An, là điểm nối phong trào Cần Vương Trunh Kỳ, từ Huế trở ra, trực tiếp gắn với hoạt động của nghĩa quân xứ Nghệ mà tiêu biểu là phong trào Nguyễn Xuân Ôn, Lang Văn Thiết…Rõ ràng căn cứ Ổn Lâm – Kỳ Thượng là một điểm sáng trên bản đồ của Thanh Hóa cả tỉnh rất tích cực chống Pháp, có đặc điểm, chiến thuật, chiến lược riêng, có thành tích góp vào phong trào Cần Vương.
Việc nghiên cứu Tú Phương và căn cứ Ổn Lâm  - Kỳ Thượng lâu nay chỉ mới được “điểm qua loa”. Muốn hiểu biết đầy đủ phong trào yêu nước chống Pháp ở địa bàn Thanh Hóa thì việc hiểu kỹ về Tú Phương và căn cứ Ổn Lâm – Kỳ Thượng là rất cần thiết.
Tóm lại, phong trào đấu tranh chống Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX đã phát triển rộng khắp, có địa bàn chiến lược từ đồng bằng, trungdu, đến miền núi, thu hút sự tham gia của hầu hết các tầng lớp nhân dân yêu nước. Phong trào còn liên kết và mở rộng địa bàn hoạt động sang các vùng, các tỉnh lân cận, tạo thành một phong trào có quy mô rộng lớn. Đó là đặc điểm nổi bật, một thực tế lịch sử rất đáng được chú ý khi nghiên cứu phong trào Cần Vương chống Pháp ở Thanh Hóa. Về mặt thời gian, phong trào kháng chiến chống Pháp ở Thanh Hóa bùng nổ vào loại sớm nhất, và cũng là phong trào kéo dài, liên tục và bền bỉ nhất. Trong khi tiếng súng Cần Vương chống Pháp ở các tỉnh ngoài Bắc trong nam, kể cả phong trào khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) đã dần dần lắng xuống thì ở Thanh Hóa cuộc kháng chiến vẫn phát triển và càng đến giai đoạn cuối, phong trào càng diễn ra quyết liệt, biểu hiện bằng loạt trận chiến đấu quy mô lớn của nghĩa quân, như các trận: Suối Tất, trận đánh đồn Thổ Sơn (gần Bái Thượng)[3].
Dựa vào điều kiện cụ thể và phát huy ưu thế của địa bàn chiến lược, phongtrao2 kháng chiến ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX đã nổ ra; nghĩa quân biết sử dụng nhiều phương thức tổ chức tác chiến, thể hiện nghệ thuật quân sự độc đáo và tính chất nhân dân của phong trào…
Cũng giống như cả nước, người nắm quyền lãnh đạo phong trào kháng chiến ở Thanh Hóa chủ yếu là các sĩ phu, văn thân yêu nước, tiêu biểu như tiến sĩ Tống Duy Tân, Phó bảng Nguyễn Đôn Tiết, các Cử nhân Hoàng Bật Đạt, Phạm Bành, Tú tài Nguyễn Phương…hay các lãnh đạo miền núi như: Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao. Do hoàn cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, song trước hết là tấm lòng yêu nước mà họ đã đứng dậy dựa vào tinh thần độc lập dân tộc, cơ sở văn hóa ngàn năm của dân tộc, mà gần gũi với quần chúng nhân dân, do đó, họ đả tổ chức động viên tập hợp nhân dân kháng chiến chốn Pháp, được nhân dân hết lòng ủng hộ.
Tuy thế, do hạn chế của giai cấp xuất thân, và thời đại lịch sử, nên họ không đủ khả năng thu hút lực lượng kháng chiến vào một khối thống nhất, đấu tranh theo đường lối và phương pháp cách mạng rõ ràng cụ thể, vừa chuẩn xác vừa thích hợp. Chính vì vậy, phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa cũng như trên phạm vi cả nước, tuy đã bùng lên sôi nổi, phát triển rộng khắp và kéo dài bền bỉ, nhưng cuối cùng không tránh khỏi thất bại.
Mặc sù vậy, sự hy sinh của chiến sĩ Cần Vương đã để lại cho các thế hệ sau những bài học bổ ích và thiết thực “Cái chết của họ làm cho Tổ quốc sống lại, lòng can đảm của họ bất diệt”[4]




ß ĐH Hồng Đức
[1] Lịch sử thành phố Thanh Hóa – Đinh Xuân Lâm (chủ biên), (1804 – 1947), NXB Thanh Hóa, 1990, tr. 11
[2] Sđd, tr. 12
[3] Kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm khởi nghĩa Ba Đình 186 – 1896. Ban nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa tổ chức, NXB Thanh Hóa, 1992, tr. 81
[4] Trần Dân Tiên. Những mẫu chuện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, NXB Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 35

KHÚC THỪA DỤ (? – 907)


Người mở đầu công cuộc tự chủ của đất nước. Ông quê ở Hồng Châu (xã Cúc Bồ, huyện Ninh Thanh, Hải Hưng), là một hào trưởng có tính khoan hòa, hay thương người nên được dân chúng khâm phục, quý mến. Vào cuối thế kỷ thứ 9, nhà Đường ở Trung Hoa suy yếu, trong triều các phe phái tranh giành quyền lực với nhau. Viên Tiết độ sứ do nhà Đường cử sang cai trị đất Giao Châu (Việt Nam) là Độc Cô Tổn bị bãi chức, đày đi nơi khác. Đấy là viên Tiết độ sứ cuối cùng nhà Đường cử sang cai trị Giao Châu. Lợi dụng thời cơ khi chính quyền đô hộ như rắn mất đầu, Khúc Thừa Dụ đã khởi binh giành chính quyền và tự xưng là Tiết độ sứ. Triều đình nhà Đường buộc phải công nhận chức Tiết độ sứ và còn phong thêm tước cho ông. Tuy mang danh nghĩa là một quan chức của nhà Đường nhưng Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, đặt cơ sở cho nền độc lập dân tộc, chấm dứt về cơ bản ách thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc. Ông cũng mở đầu cho một đường lối ngoại giao khôn khéo với triều đình phong kiến phương Bắc: “độc lập thật sự, thần thuộc trên danh nghĩa”.
Ngày 23 tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất. Con trai là Khúc Hạo* tiếp tục sự nghiệp xây dựng nền tự chủ của dân tộc.

L.V.N.

TRIỂU ĐÌNH NHÀ NGUYỄN VỚI PHONG TRÀO CHỐNG PHÁP Ở TÂY BẮC (NỬA SAU THẾ KỶ XIX)


Th.s. Phan Văn Lựcß

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào nửa sau thế kỷ XIX, nhân dân Tây Bắc cùng đồng bào cả nước đấu tranh mạnh mẽ.
Tây Bắc bao gồm 10 châu Thái lúc này thuộc tỉnh Hưng Hóa[1], là địa bàn cư trú của 23 dân tộc anh em: Thái, Mông, Lự, Hoa, Kinh, Khơ Mú, Tày, Mường…[2]. Các dân tộc Tây Bắc tuy còn nghèo nàn lạc hậu nhưng giàu truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất trong kháng chiến chống ngoại xâm vì tự do độc lập của dân tộc dưới sự chỉ đạo của tuần phủ Nguyễn Quang Bích, kết hợp với quân “Cờ đen” của Lưu Vĩnh Phúc (bộ phận nghĩa quân nông dân Trung Quốc giúp ta chống Pháp), nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã phát huy truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất của mình, thành lập đạo quân “Thập Châu” kiên quyết đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Nghĩa quân “Thập Châu” đều do thủ lĩnh các châu mường chỉ huy và được chia làm 4 đội: Đội quân Văn Bàn, Văn Chấn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Quang, đội quân Mộc Châu do Sa Văn Nọi chỉ huy, đội quân Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mường LA do Cầm Bun Hoan chỉ huy, đội quân Lai Châu, Phong Thổ do thủ lĩnh châu mường Điêu Văn Trì lãnh đạo[3]. Nghĩa quân “Thập Châu” cùng với quân “Cờ Đen” của Lưu Vĩnh Phúc là lực lượng nòng cốt của đạo quân Sơn Tây trong phong trà chống Pháp vùng Tam Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quan) thời kỳ này.
Đầu tháng 11/ 1873, do sự nhu nhược của triều đình phong kiến Nguyễn, thực dân Pháp liên tục lấn tới, ngày 12/11/1873 F.Garrnier gửi tối hậu thư, đòi Nguyễn Tri Phương phải hạ vũ khí và giao nộp thành Hà Nội và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc nghĩa quân “Thập Châu” bao gồm hơn 800 nghĩa binh cùng với hơn 1,6 vạn dân binh đã sang Lào Cai phối hợp với đạo quân Tam Tuyên để về vây giặc ở thành Hà Nội, “Quan tô mương” của Mường Lò viết: “Cả mười châu Thái đều theo ông Lưu đi đánh giặc… Theo lệnh ông Lưu cùng “Thập Châu” đem quân đến Lào Cai đểvề xuôi đánh giặc”[4]. Sau hơn bốn tháng chiến đấu, Pháp bị quân ta vây nhốt ở trong thành trở nên hoang mang, ngày 21/12/1873 Garnier buộc phải mang quân ra Sơn Tây để phá vòng vây. Song vừa đến Cầu Giấy thì quân Pháp rơi vào ổ phục kích của ta, bị tiêu diệt gần hết, garnier cũng bị quân ta giết tại trận[5]. Trong chiến thắng này, có sự đóng góp của nhân dân Tây Vắc.
Trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp tiến công thành Hà Nội, mở đầu cho hành động xâm lược Bắc Kỳ lần thứ hai…[6] nhân dân ở nhiều địa phương Tây Bắc đã tự mộ quân kiên quyết đứng lên kháng chiến. Sau khi Tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn, thực dân Pháp đang tìm mọi cách để mở rộng phạm vi đánh chiếm ở Bắc Kỳ, tiến lên vùng “Thập Châu”, nơi thường xuyên bị giặc “Cờ Vàng” (tàn quân của Thái Bình Thiên Quốc) phá phách, cướp bóc. Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc đã bức được quân “Cờ Vàng” và dàn xếp được sự bất hòa nội bộ giữa phe phái trong lực lượng chống Pháp ở Tây Bắc. Lực lượng kháng chiến chống Pháp ở vùng “Thập Châu” cũng có dịp phát triển mạnh mẽ hơn. Nghĩa quân “Thập Châu” một mặt tích cực củng cố, xây dựng các căn cứ kháng chiến ở thượng lưu sông Đà và dọc sông Thao, một mặt vẫn tiếp tục theo đường Thanh Sơn – Thu Cúc sang Sơn Tây kéo quân về để vây giặc ở Hà Nội. Với lực lượng đông đảo trên 1000 người và khoảng 2000 dân binh, nghĩa quân Tây Bắc đã đảm nhiệm một hướng quan trọng ở phía Tây thuộc khu vực Cầu Giấy và toàn bộ phủ Hoài Đức (Hà Tây). Trong suốt quá trình vây giặc ở Hà Nội, nghĩa quân “Thập Châu” chiến đấu kiên cường, áp dụng chiến thuật bắn tỉa để tiêu hao sinh lực địch và đêm đêm dùng thang tre vượt thành vào quấy nhiễu địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại…[7].
Sau gần một năm bị vây nhốt trong thành, thực dân Pháp  bị dồn vào tình thế khốn quẫn tưởng chừng như ngột ngạt đến khó thở; chính bọn cùng đã phải thừa nhận: “Quân lính bị bao vây trong thành Hà Nội tưởng như thiếu không khí để thở…”[8]. Trong tình hình quẫn bách đó, không có cách nào khác, mờ sáng ngày 19/5/1883, Henri Rivière (Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ) đã phải liều chết dẫn 550 lính cùng 3 cỗ đại bác yểm trợ đánh ra Cầu Giấy và phủ Hoài Đức (Hà Tây). Tại dây nghĩa quân “Thập Châu” cùng với quân “Cờ Đen” đã mai phục sẵn và chiến đấu hết sức dũng cảm. Sau hơn 2 giờ chiến đấu đến khoảng 7 giờ sáng quân ta đánh bại hoàn toàn âm mưu phá vòng vây của giặc Pháp, giết chết tại trận H.Rivière. Tinh thần chiến đấu của nghĩa quân “Thập Châu” đã được phản ánh trong “Quan Tô mương” của Mường La Quan Đề tướng (tức Lưu Vĩnh Phúc) sai tướng Ba Dếnh (tức Lưu Bá Anh) cùng binh Ngô (người Hoa), Thái, dàn binh hai mặt đánh Tây, còn mình cầm binh đánh chặn mặt sau. Khi lâm trận, Tây bắn trọng thương tướng Ba Dếnh nhưng ông lập tức bắn trả. Đạn của ông Ba Dếnh trúng tên quan năm,chỉ huy quân Tây chết…”[9]. Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai của nghĩa quân “Thập Châu” vùng Tây Bắc và đạo quân Tam Tuyên đã làm lung lay ý đồ xâm lược nước ta của thực dân Pháp. Thắng lợi này đúng ra cần phải được phát huy nhưng do bản chất bạc nhược, ươn hèn của triều đình phong kiến Nguyễn sợ các lực lượng kháng chiến hơn sợ giặc, lại ra lệnh triệt thoái các lực lượng chống Pháp và chấm dứt các hoạt động quân sự ở khu vực Hà Nội để triều đình thương lượng với Pháp mong sao chúng tự rút khỏi Bắc Kỳ như hồi năm 1873. Tuy nhiên với truyền thống yêu nước, tinh thần chiến đấu quả cảm, Nguyễn Quang Bích và các thủ lĩnh nghĩa quân “Thập Châu” vùng Tây Bắc cùng đạo quân Tam Tuyên vẫn tiếp tục ở lại vây thành Hà Nội them một thời gian nữa, đến cuối tháng 6 đầu tháng 7 mùa mưa, nước lũ không có lợi cho các hoạt động quân sự, nghĩa quân buộc phải rút về căn cứ Sơn Tây[10].
Từ năm 1883 tình hình có nhiều chuyển biến tích cực, phong trào chống Pháp của nhân dân ta sục sôi khắp các địa phương trong cả nước. Đứng đầu phe chủ chiến, Tôn Thất Thuyết thường xuyên liên hệ và luôn luôn ủng hộ phong trào chống Pháp của nhân dân ta trong đó có phong trào chống Pháp của nhân dân các dân tộc Tây Bắc…Có chỗ dực là phe chủ chiến. Nguyễn Quang Bích cùng các thủ lĩnh nghĩa quân vùng “Thập Châu” không những một lòng kiên định tinh thần chống Pháp, kháng lệnh triều đình không chịu rút quân mà còn trực tiếp cùng đạo quân Sơn Tây chống thực dân Pháp xâm lược khi chúng mở rộng phạm vi đánh chiếm lên căn cứ Sơn Tây, vùng Tây Bắc và thượng lưu sông Đà. Khi thực dân Pháp chiếm Sơn Tây ngày 16 – 17/12/1883 nghĩa quân một mặt rút về tích cực lập tuyến phòng thủ ở Yên Lập (Phú Thọ) để bảo vệ thành Hưng Hóa, Phủ Lạng Thương và Tuyên Quang… Đến khi thành Hưng Hóa thất thủ (ngày 12 tháng 4/1884) nghĩa quân “Thập Châu” lại rút về tiếp tục xây dựng căn cứ chống Pháp ở dọc sông Thao.
Sauk hi triều đình phong kiến Nguyễn ký với Pháp điều ước Patenotre (ngày 6/6/1884) thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và ngày 9 tháng 6 năm 1885 triều đình Mãn Thanh cũng ký với Pháp hiệp ước Thiên Tân. Theo hiệp ước, triều đình Mãn Thanh buộc phải rút các lực lượng đã đưa sang nước ta từ khi Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai (25/4/1882)[11].
Tình hình đó làm cho phong trào chống Pháp ở nước ta nói chung và phong trào chống Pháp ở “Thập Châu” nói riêng có những diễn biến phức tạp, nhìn chung có phần bị suy giảm. Trong lúc khó khăn, mâu thuẫn trong nội bộ những người lãnh đạo nghĩa quân lại nảy sinh; hàng ngũ nghĩa quân có sự phân hóa, một số thủ lĩnh quá mệt mỏi như Cầm Bun Hoan, Nguyễn Văn Quang là những người đầu tiên đã ra hàng giặc, một số thủ lĩnh bỏ về quê nằm im.
Chỉ còn một số ít thủ lĩnh như Sa Văn Nọi (Mộc Châu), Điêu Văn Toa (Phong Thổ)…vẫn kiên định cùng với Nguyễn Quang Bích tiếp tục gây dựng lại phong trào chống Pháp ở vùng “Thập Châu” Tây Bắc.
Tháng 7/1885 vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, phong trào Cần Vương bùng nổ ở khắp các tỉnh miền Trung và Bắc Kỳ, nhiều văn thân, sĩ phu hưởng ứng chiếu Cần Vương đã vận động nhân dân nổi dậy chống Pháp, điển hình là các cuộc khởi nghĩa Ba Đình, bãi Sậy, Hương Khê… Ở “Thập Châu” từ khi thành Hưng Hóa thất thủ, Nguyễn Quang Bích cùng nghĩa quân tiếp tục dựa vào vùng rừng núi Hưng Hóa để xây dựng căn cứ chống Pháp ở dọc sông Thao. Trong điều kiện hết sức khó khăn, Nguyễn Quang Bích vẫn kiên định tinh thần chống Pháp, ông đã trực tiếp chỉ huy việc xây dựng căn cứ chống Pháp mà trung tâm lúc này là vùng Đại Lịch, Mường Cơi, Thu Cúc, Lai Đồng (Nghĩa Lộ), Yên Lập (Vĩnh Phúc), Vạn Yên, Phù Yên, Mộc Châu (Sơn La), Phong Thổ (Lai Châu). Ở đây đồng bào các dân tộc Mường, Thái, Dao, Mông đã đoàn kết một lòng dưới ngọn cờ nghĩa của vị thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích kiên quyết chống Pháp, làm cho chúng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình đánh chiếm khu vực Tây Bắc và vùng thượng lưu sông Đà…Từ năm 1887 – 1889 sau khi được tăng viện, thực dân Pháp dựa vào một số thủ lĩnh nghĩa quân đã hàng giặc dẫn đường đánh mạnh vào các căn cứ chống Pháp ở dọc sông Thao, Nghĩa Lộ, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu. Đặc biệt, ngày 10/10/1889 thực dân Pháp từ Bắc Ninh mở cuộc tiến công lớn vào đại bản doanh của phong trào chống Pháp ở vùng “Thập Châu” Tây Bắc tại xã Mộ Xuân – Yên Lập – Phú Thọ[12]. Trong điều kiện hết sức chênh lệch nên đại bản doanh của nghĩa quân ở Mộ Xuân nhanh chóng bị thực dân Pháp đánh chiếm. Căn cứ chống Pháp ở Tây Bắc cũng lần lượt tan vỡ…Kết thúc một thời kỳ đấu tranh oanh liệt chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân các dân tộc Tây Bắc.



ß Trường Đại học Tây Bắc
[1] Việt Nam những sự kiện (1858 – 1918), Dương Kinh QỐc, NXB Giáo dục Hà Nội, năm 2001, tr. 286
[2] Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam, Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc xuất bản năm 1972
[3] Nhân dân các tỉnh Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1930). Bản sơ thảo của Bùi Tịnh, Cầm Trọng – ban bân tộc Khu tự trị Tây BẮc ấn hành năm 1972, tr. 33 – 37.
[4] Quan tô mương của Mường Lò, kể chuyện bản nường của Mường Lò (bản viết tay). Tư liệu điền dã tại Mường Lò – Nghĩa Lộ tháng 5/2000
[5] Quan tô mương của Mường Lò, kể chuyện bản nường của Mường Lò (bản viết tay). Tư liệu điền dã tại Mường Lò – Nghĩa Lộ tháng 5/2000
[6] Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 – 1918). Dương Kinh Quốc. NXB Giáo dục. Hà Nội năm 2001, tr. 217
[7] Quan tô mương của Mường Piềng (Thuận Châu – Sơn La). Kể chuyện bản mường của Mường Piềng (bản viết tay). Tư liệu điền dã tại Mường Piềng – Thuận Châu – Sơn La tháng 7/2001
[8] Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1930). Bản sơ thảo của Bùi Tịnh, Cầm Trọng – Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc ấn hành năm 1972, tr. 27
[9] Quan tô mương của Mường La (Sơn La). Kể chuyện bản mường La (bản viết tay). Tư liệu điền dã tại Mường La tháng 7/2001
[10] Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1930). Bản sơ thảo của Bùi Tịnh, Cầm Trọng – Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc ấn hành năm 1972, tr. 27 - 28
[11] Dương Kinh Quốc, Việt Nam Những sự kiện lịch sử (1858 – 1918). NXB Giáo Dục. Hà Nội năm 2001, tr. 149.
[12] Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 – 1918), NXB Giáo Dục, Hà Nội năm 2000, tr. 136

KHÚC HẠO (? – 917)


Ông là con của Khúc Thừa Dụ*, thay cha làm Tiết độ sứ năm 907. Lúc bấy giờ nhà Hậu Lương vừa thành lập ở Trung Hoa vẫn nuôi mộng xâm lược lại đất nước ta. Trước tình hình đó, Khúc Hạo cố chăm lo xây dựng nền độc lập dân tộc, giữ vững đất nước. Đường lối cai trị của ông là: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Ông đã thi hành nhiều cải cách quan trọng: xây dựng một chính quyền dân tộc thống nhất từ trung ương cho đến xã, sửa đổi chế độ điền tô, thuế má vốn là những ách nặng nề nhân dân phải chịu dưới thời lệ thuộc nhà Đường. Dưới thời ông, bộ mặt đất nước đã bắt đầu đổi mới, đời sống nhân dân dễ chịu hơn trước. Công cuộc xây dựng nền tự chủ, thống nhất của ông mở ra một thời kỳ phát triển mới của xã hội Việt Nam, được những triều đại sau kế tục.
Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay, vẫn xưng là Tiết độ sứ.

L.V.N.

Monday, June 20, 2016

NHÌN NHẬN CỦA PHAN BỘI CHÂU VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NGUYỄN ĐỂ NƯỚC TA MẤT VỀ TAY THỰC DÂN PHÁP CUỐI THẾ KỶ XIX



PGS. TS. Nguyễn Đình Lễß

Xung quanh vấn đề nguyên nhân mất nước và trách nhiệm của nhà Nguyễn để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp có nhiều ý kiến khác nhau trong nghiên cứu cững như trong dạy học lịch sử. Nhìn chung các nhà sử học, giáo dục lịch sử đều thống nhất rằng triều đình Huế phải chịu trách nhiệm trong việc làm mất nước. Lý giải cho quan điểm này, các nhà sử học và giáo dục lịch sử đã quy vua tơi nhà Nguyễn các tội hèn yếu, bảo thủ, không chịu tiến hành canh tân đất nước…Những điều này được xem là nguyên nhân dẫn đến việc mất nước.
Góp phần giải quyết những vấn đề trên, chúng tôi giới thiệu một số quan điểm của Phan Bội Châu đối với thái độ của vua tôi nhà Nguyễn trong việc nước ta mất nước vào tay thực dân Pháp.
Phan Bội Châu là một nhà yêu nước nhiệt thành, từ thuở niên thiếu đến cuối đời luôn sục sôi “bầu máu nóng”, với nguyện ước “vì nước, vì dân”. Tuy không mấy thành công trong quá trình đấu tranh cứu nước, như cụ từng đánh giá trong “Phan Bội Châu niên biểu”: “Than ôi! Lịch sử của ta là lịch sử của trăm thất bại mà không một thành công”, song cuộc đời và sự nghiệp yêu nước của Cụ đã để lại cho nhân dân một si sản quý báy – “Cứu quốc tồn chủng” (lo cứu nước bảo vệ nòi gióng), như Cụ đã ghi trong “Lời cáo biệt đồng bào”.
Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, Phan Bội Châu mong mọi người tù vua quan đến thứ dân biệt nhục mất nước mà đứng lên đấu tranh cứu nước. Bởi vì, “Không có gì đau bằng người mất nước, cũng không có gì đau bằng người bị mất nước mà bàn việc nước!”[1]. Cũng từ mục tiêu cứu nước là chủ yếu cho nên đối với Phan Bội Châu trong việc đánh giá một con người Việt Nam, dù là vua, quan hay thuộc một tầng lớp xã hội nào khác, chỉ dựa vào một tiêu chuẩn chung. Đó là có lòng yêu nước và quyết tâm đấu tranh đánh đuổi giặc cứu nước hay không?
Qua nhiều tác phẩm của Phan Bội Châu, đặc biệt trong “Việt Nam vong quốc sử”, chúng ta dễ dàng nhận thấy Cụ hết lời ca ngợi những người yêu nước và lên án bọn bán nước, kẻ phản bội đầu hàng, không kể những người này thuộc giai cấp nào, tầng lớp nào trong xã hội.
Đối với các vua nhà Nguyễn, Phan Bội Châu cũng khách quan nhìn nhận rằng buổi đầu thời Gia Long, do “vua tôi Việt Nam hòa Thuận, đối với chính giáo không thiếu sót…”, nên thực dân Pháp “chưa dám khinh xuất động binh”[2]. Song, “đến khoảng đầu Tự Đức, thấy nước Việt Nam quả là yếu hèn, chính giáo, dân quyền ngày càng bị tướt bớt, công luận không được mờ rộng”, nên Pháp mới “đem thuyền binh, xuất kỳ bất ý lẻn ra đánh Đà Nẵng”[3].
Phan Bội Châu không ca ngợi vua nào của nhà Nguyễn, kể cả Hàm Nghi, Thành Thái, nhưng cũng lên án gay gắt thái độ, cách cư xử của thực dân Pháp đối với các vua có lòng yêu nước. Điều này, xuất phát từ một cơ sở mà Phan Bội Châu nêu ra: “Nguyên Việt Nam là một nước có vua”[4]. Cần phải hiểu rằng, Phan Bội Châu đã nói đến một thực tế, một điều thuộc về pháp lý lúc bấy giờ: nước có vua. Cho nên Cụ mới lên án “ Người Pháp đã đánh hạ kinh thành, vua Hàm Nghi vì thế phải chạy ra, đến nơi nào thì một tất đất đều là đất cũ của tổ tong cha mẹ, có can gì đến người Pháp? Thế mà người Pháp đã theo bắt cho kỳ được, đem đày ở nơi xa tít mãi đất Algen…lại giam ở nhà kín, cấm không được giao thong với người ngoài, lại cấm đứt những tin tức qua lại, hỏi han người Việt. Đem một ông vua có đức mà không có tội lỗi gì cầm tù nơi đất khách…”[5].
Còn đối với triều thần thì thái độ của Phan Bội Châu cũng rất rõ ràng: phê phàn, đả kích những viên quan hèn nhát, ca tụng những người chiến đấu hy sinh cho đất nước. Cụ dành nhiều trang trong “Việt Nam vong quốc sử” để trình bày “Tiểu truyện các chí sĩ lúc mất nước”, như Nguyễn Bích ở Nam Định, Nguyễn Đôn Ti6et1 ở Thanh Hóa, Lê Trung D(ình, Trần Du ở Quảng Ngãi, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Xuân ở Nghệ An và đặc biệt là Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh.
Như vậy Phan Bội Châu đứng trên quan điểm yêu nước để đánh giá các vua, quan nhà Nguyễn, nhưng không phải không đề cập đến trách nhiệm của triều đình Huế trong việc làm mất nước. Trong bài “Phổ cáo lục tỉnh” (gửi đồng bào sáu tỉnh Nam Kỳ), dùng lời Cường Để – một hoàng thân Nhà Nguyễn – nói với nhân dân miền đất mới khai phá từ thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nhằm thu hút được sự ủng hộ tích cực của nhân dân Nam Bộ đối với phong trào Đông Du của Duy Tân hội do Cường Để là “Hội chủ”. Phan Bội Châu đã nói đến công lao khai phá đất đai, ca tụng những anh hùng liệt sĩ Nguyễn Hữu Huân, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, “đều khẳng khái bỏ mình, khí anh linh lẫm liệt, các vị đã chết nhưng không hề mai một”[6].
Mặt khác cũng phê phán việc Nguyễn Ánh đã liên kết với Pháp, gây dựng lực lượng để độc quyền thống trị đất nước, dẫn tới cái họa mất nước sau này: “Chúng nó từng đem Đông cung Thái tử Cảnh là dòng tích tôn năm đời của Gia Long là một kẻ bất tài, lại gặp lúc vận bỉ đem ra hải ngoại rồi bí mật lập quan hệ ngoại giao”[7].
Từ việc vạch trần ý đồ của Nguyễn Ánh dựa vào ngoại bang để đánh bại Tây Sơn, rồi ngày một lệ thuộc vào Pháp, dẫn tới chỗ khuất phục, đầu hàng. Quá trình này bắt nguồn ở bản chất vua tôi nhà Nguyễn. Phan Bội Châu đã phê phán rất gay gắt rằng: “…Ví sử vua tôi người Việt Nam thường nghĩ đến tiến bộ, lo mở mang dân trí, lo đào tạo nhân tài, về quốc kế quân mưu, mọi việc đều cầu tiến bộ, có lẽ đâu lại không như lửa mạnh mà được củi khô bốc lên rừng rực sáng đỏ thấu trời đất ư? Người ta cũng có nói: “đồ đựng đầy thời nghiêng đổ”. Người Việt bấy giờ tự coi là mãn túc, ôm vàng vênh váo, ếch ngồi đáy giếng không trông thấy trời, văn vui chơi, võ yên nghĩ ngày càng thậm tệ. Trong khi ấy về chính giáo thì chứa chất hủ lậu, mọi việc đều mô phỏng Minh Thanh, văn nhân thì khư khư giữ theo sách cũ, tự khoe đắc chí; vũ sĩ thì cốt ở cờ trống mỹ quan, côn quyền coi như trò chơi, tự cho là không ai hơn được. Đáng bỉ hơn hết là ức chế dân quyền, coi thường dư luận, phàm bàn việc quốc gia đại kế, nhân dân chỉ được ở ngoài hỏi rồi than thở mà thôi”[8].
Trng đoạn dẫn trên, tuy Phan Bội Châu không trực tiếp nêu rõ là vua quan Nhà Nguyễ, song qua đó hiểu rõ đối tượng mà Cụ chỉ trích là triều đình Huế. Nhưng điều mà Phan Bội Châu nêu lên phản ánh thực trạng xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, thái độ, tư tưởng bảo thủ, rập khuôn, sợ dân, xa rời dân, áp bức bóc lột nhân dân là đúng sự thực đã diễn ra.
Nhận xét về tình hình đất nước, triều đình lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng nêu một giả định lịch sử; là giả định không có cơ sở thực tế khách quan. Bởi vì, trong những điều kiện tương tự như Việt Nam trước nguy cơ xâm lược của thực dân phương Tây, có nước đã canh tân đất nước, thoát khỏi thân phận một nước nô lệ. Tiêu biểu là Nhật Bản mà Phan Bội Châu đã nhìn thấy và hy vọng, mong ước sự giúp đỡ của “đồng văn, đồng chủng”. Giả định của Phan Bội Châu như sau: “Nước Việt Nam lúc bấy giờ biết chăm lo tu chỉnh về quân chính, mở rộng dân quyền, vua tôi trên dưới đều mạnh mẽ mưu trị nước, nghiên cứu sâu trí học của ngoại dương, tẩy trừ khuôn khổ hủ lậu, “kịp khi trời chưa mưa dầm, lấy những gốc dâu mà gài chằng cửa sổ,”, nước còn có thể phấn chấn lên được.
Nhưng nước Việt Nam mơ màng đôi mắt ngủ, uể oải thân bệnh, tôn quân quyền, trọng hủ văn, khinh võ sĩ, trộm cướp rình mò ở sân, mà vợ con say hát trong nhà, chủ nhân nằm dài trên giường luôn luôn ngáp dài mỏi mệt. Than ôi! Nguy ngập lắm thay”[9].
Những điều trên đây được nhiều nhà duy tân thời Nguyễn, như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ,…điều trần. Ở đây, Phan Bội CHâu không đề xuất cho triều đình mà chủ yếu nói chung cho cả nước. Chúng ta còn thấy thấp thoáng tư tưởng của Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo Vương trong “Hịch tướng sĩ” trong đoạn văn trên của Phan Bội Châu; song Cụ Phan nói về trách nhiệm, nghĩa vụ của người dân với đất nước, quê hương, gia đình chứ không phải là mối quan hệ vua – tôi, chủ – tớ, như Trần Quốc Tuấn nêu trong bài hịch của mình.
Phân tích thái độ, vai trò của triều đình Huế, Phan Bội Châu cuối cùng cũng phải đề cập đến trách nhiệm của vua quan nhà Nguyễn trong việc làm mất nước ta. Chương thứ mười “Đầu đuôi mối quan hệ giữa nước ta với châu Âu” trong quyển “Việt Nam sử khảo” trình bày khá đầy đủ về quá trình Thiên chú giáo xâm nhập vào Việt Nam, đi đôi với quá trình thực dân phương Tây âm mưu và tiến hành xâm lược nước ta. Việc triều đình Nguyễn ngày càng lệ thuộc, bị ràng buộc vào thực dân đi đến chỗ mất chủ quyền độc lập và làm tay sai cho chúng được thể hiện ở cac hiệp ước được ký kết, như các hiệp ước 1862, 1883, 1884. Phan Bội Châu đã nêu rõ, triều đình nhà Nguyễn cứ trượt dần theo con đường thất bại chủ ngĩa, không tính gì đến dân, đến nước.  Cụ đã kết án việc làm mất nước của triều đình Huế là “do rất nhiều điều tệ, tội nhiều không kể hết, nhưng trong đó có bốn cái tội lớn:
- Một là ngoại giao hẹp hòi
- Hai là nội trị hủ bại
- Ba là dân trí bế tắc
- Bốn là vua tôi trên dưới tự tư tự lợi[10]
Vì vậy triều đình mới từ kháng cự yếu ớt chuyển dần sang nhượng bộ, đầu hàng, làm tay sai cho thực dân. Thái độ này khác hẳn tinh thần, ý chí chống ngoại xâm của nhân dân ngày càng mạnh mẽ.
Ở đây, một vấn đề được đặt ra là vì sao nhìn thấy sự hèn yếu, phản bội của triều đình phong kiến mà trong buổi đầu đấu tranh giành độc lập, Phan Bội Châu vẫn giương ngọn cờ “quân chủ lập hiến”, tôn phong Cường Để làm minh chủ. Có thể nhận thức rằng, Phan Bội Châu muốn tập hợp mọi lực lượng để đạt mục tiêu lớn nhất lúc bấy giờ là độc lập dân tộc. Con đường “quân chủ lập hiến” lúc bấy giờ còn có thể tập hợp được nhiều nhà yêu nước khi chưa xác định con đường cứu nước mới, hơn nũa cũng chưa hoàn toàn thoát khỏi tư tưởng “trung quân ái quốc”. Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhấn mạnh rằng ngay từ thời phong trào Cần Vương, tư tưởng trung quân cũng không phải phục hồi chế độ phong kiến đã lỗi thời mà chỉ tôn phò một ông vua yêu nước mà thôi. Có lẽ lúc đầu nhà sĩ phu yêu nước Phan Bội Châu giương ngọn cờ “quân chủ lập hiến” chỉ là một “thủ đoạn”, sách lược trong đấu tranh cứu nước, giải phóng dân tộc, vì chẳng bao lâu sau Phan Bội Châu đã nhiệt liệt hoan nghênh và đi theo con đường “Cộng hòa” và trước khi bị bắt đưa về nước ít lâu, Cụ đã hướng về “Chủ nghĩa xã hội”.
Tìm hiểu quan điểm của Phan Bội Châu đối với trách nhiệm của vua quan nhà Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp, chúng tôi mong muốn góp phần vào việc kiến giải một vấn đề lớn của lịch sử Việt Nam thời cận đại đang còn tranh cãi.




ß Khoa Lịch Sử – Trường ĐHSP Hà Nội.
[1] Phan Bội Châu  toàn tập, tập 2. Chương Thâu sưu tầm và biên soạn, NXB Thuận Hóa, Huế, 1990, tr. 103.
[2] Sđd, tr. 106
[3] Sđd, tr. 106 - 107
[4] Sđd, tr. 125
[5] Sđd, tr. 125 - 126
[6] Sđd, tr. 71
[7] Sđd, tr. 106
[8] Sđd, tr. 107
[9] Sđd, tr. 483
[10] Sđd, tr. 483

KHÔNG LỘ (? – 1119)


Vị cao tăng đời Lý, tổ sư nghề đúc đồng. Ông họ Dương, xuất thân từ một gia đình chái lưới, người xã Hải Thanh, huyện Giao Thủy (Hà Nam Ninh). Không Lộ thọ giới với quốc sư Thông Biện, thuộc Thiền phái Vô Ngôn Thông. Sau khi thành đạo, ông thường vân du các nơi và trở về ở tại chùa Nghiêm Quang, xã Hải Thanh quê nhà. Tương truyền ông không những tinh thông Phật giáo mà còn giỏi về pháp thuật. Có lần Thái tử nhà Tống ở Trung Hoa bị bệnh nan y, không ai chữa được phải nhờ đến ông sang giúp. Sau khi chữa lành bệnh, ông không nhận gì cả, chỉ xin một ít đồng về đúc chuông. Ông làm phép thu cả kho đồng đựng vào tay áo đem về đúc nhiều chuông lớn cho các chùa.
Theo truyền thuyết của nhân dân làng Đề Kiều (Hà Bắc) thì sư Không Lộ lấy đất nặn khuôn rồi nung đồng chảy rót vào. Lúc đầu ông đúc chậu, lư, đỉnh, sau đúc đến chuông. Giúp việc cho ông có hai chú tiểu là Phạm Quốc Tài, quê ở làng Đề Kiều và Trần Lục, quê ở làng Đông Mai. Khi hai chú tiểu đã thạo nghề, ông cho về quê để truyền nghề cho dân làng. Ngày nay thợ đúc đồng thờ sư Không Lộ cùng với sư Minh Không là những ông tổ của nghề.

L.V.N.