Showing posts with label Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Show all posts

Saturday, July 2, 2016

LÊ CHÂN (? – 43)


Nữ tướng của Hai Bà TRưng*, quê ở Đông Triều. Tương truyền rằng bà xinh đẹp và giỏi võ. Sau khi cha mẹ bị thái thú Tô Định giết chết, bà chạy ra vùng viển (An Dương), tập hợp dân quê, khai phá đất đai trồng trọt, đồng thời chiêu tập thanh niên, rèn luyện võ nghệ chuẩn bị nổi lên đánh quân Hán. Khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn, bà đưa người của mình đến gia nhập, lập được nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến đánh đuổi Tô Định. Cuộc khởi nghĩa thành công, Trưng Trắc lên ngôi phong bà là Thánh Chân công chúa, giữ trọng trách “Chưởng quản binh quyền nội bộ”. Khi quân Mã Viện kéo sang đánh, bà chặn thủy binh địch bằng cách ngăn sông lấp suối. Do lực lượng ít ỏi, cuộc kháng chiến thất bại, Ha Bà Trung tự tận, bà cũng tự sát theo.

L.V.N.

KÝ CON (Đoàn TRần Nghiệp, 1908 – 1930)


Một trong những Đảng viên tích cực của Việt Nam Quốc Dân Đảng, có tài liệu cho rằng tên thật là Đặng Trần Nghiệp, bí danh là Doãn, Sĩ Hiệp, sinh năm 1908 tại phố Hàng Sơn, Hà Nội, quê làng Khúc Thủy, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (Hà Nội) trong một gia đình làm nghề kim hoàn. Năm 18 tuổi Đoàn Trần Nghiệp phải vào làm cho hãng Goda ở Hà Nội với chân bán hàng. Đầu năm 1928, ông được giới thiệu vào Việt Nam Quốc Dân Đảng sau được giao việc trông coi và mua bán, xuất nhập cho khách sạn Việt Nam, một thương điếm do Việt Nam Quốc Dân Đảng mở ở số 38 Hàng Bông Đệm (9.1928). Là người nhỏ tuổi hơn cả nên nhân viên trong khách sạn gọi đùa ông là “Ký Con”, cái tên Ký Con gắn với ông từ đó. Sau vụ ám sát Bazin (9.2.1929), khách sạn Việt Nam bị đóng cửa, thực dân Pháp bắt Ký Con nhưng vai trò của Đoàn Trần Nghiệp lúc đó chưa quan trọng và cũng không có chứng cứ nên ông được thả. Từ đó ông hoạt động sát cánh bên lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng là Nguyễn Thái Học. Thấy ông là người gan dạ, kín đáo nên Nguyễn Thái Học tin tưởng, cử vào Ban ám sát, một tổ chức chuyên việc trừng trị những tên thực dân, Việt gian, những kẻ phản bội tổ chức. Người ta kể rằng, Đoàn Trần Nghiệp có dáng người nhỏ bé thư sinh, nước da trắng mịn, khuôn mặt trái xoan, cặp mắt sáng nhưng có vẻ mơ màng, đôi môi đỏ như son lúc nào trông cũng như mỉm cười, tính điềm đạm ít nói, thế nhưng ông hoàn thành một cách xuất xắc công việc ở Ban ám sát với một thái độ bình tĩnh và lạnh lùng. Điển hình là vụ xử tử Nguyễn Văn Kinh, một người trước ở trong Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng đã phản bội tổ chức và gây nhiều thiệt hại cho Đảng. Bữa đó, ngày 6.9.1929, ông rút súng bắn vào đầu Kinh rồi thản nhiên để vào ví kẻ phản bội bốn chữ “Không Giữ Lời Thề” và ung dung lên xe đạp đi. Đoàn Trần Nghiệp cũng là người biết rõ phải, trái và hành động theo nhận thức của mình. Đầu năm 1930, có một số đảng viên không nhất trí quyết định khởi nghĩa của Đảng ở nhiều địa phương tại Bắc Kỳ, vì thế các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng ra lệnh cho Đoàn Trần Nghiệp phải thủ tiêu những người bất đồng quan điểm này. Đoàn Trần Nghiệp được giao thủ tiêu Lê Hữu Cảnh nhưng ông đã không làm việc đó. Sau này Lê Hữu Cảnh vẫn tiếp tục hoạt động tích cực cho Việt Nam Quốc Dân Đảng, khi bị thực dân PHáp bắt, đã ném bình mực vào tên cảnh sát PHáp, rồi nhảy lầu tự tử. Trong cuộc khởi nghã của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930, Đoàn Trần Nghiệp phụ trách việc ném bom ở Hà Nội. Ông tổ chức Đội cảm tử mang bom ném vào nhà của Chánh mật thám Arnoux, vào Hỏa Lò, Sở Sen đầm, cảnh sát quận nhất và quận hai ở Hà Nội, cắt các đường điện thoại của thực dân ở đây. Sau vụ ném bom ở Hà Nội đêm 10.2.2930, Đoàn Trần Nghiệp bị Sở Mật thám Bắc Kỳ truy nã gắt gao. Chúng cho in hình ông và rải cáo thị hứa thưởng 5.000 đồng cho người nào giết hoặc bắt được Đoàn Trần Nghiệp. Ông phải rời Hà Nội xuống làng Dư Hàng, ngoại ô Hải Phòng. Tháng 6.1930 ông bị mật thám bắt ở Nam Định và bị đưa về Hà Nội. Trong Sở Mật thám Hà Nội, ông đã trả lời ký giả người Pháp Louis Roubaud rằng mục đích những việc làm của ông là “Để đuổi người Pháp ra khỏi xứ An Nam”.
Ngày 5.8.1930 Đoàn Trần Nghiệp đã bị kết án tử hình. Cuối năm 1930 ông bước lên máy chém tại địa điểm trước nhà ngục Hỏa Lò, Hà Nội.

V.H.L

Wednesday, June 29, 2016

KIỀU OÁNH MẬU (1854 – 19120


Tên thật là Kiều Dực sau đổi lại là Kiều Cung, tự Tự Yến, hiệu Giá Sơn, người xã Đông Sàng, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (Hà Sơn Bình). Sinh ra trong một gia đình nhà nho có truyền thống khoa cử, cha là Kiều Thăng đỗ cử nhân, Kiều Oánh Mậu đỗ cử nhân năm Kỷ Mão (1879) năm sau đỗ Phó bảng (1880), được bổ làm Tri phủ, sau không biết vì lý do nào ông bị giáng xuống Tri huyện. Sau đó bỏ ấn từ quan, chuyển sang làm báo “Đồng Văn”, chuyên biết và biên soạn, xuất bản sách. Những tác phẩm đáng chú ý của ông là Bản triều bạn nghịch liệt truyện được viết vào năm Tân Sửu Thành Thái thứ 13 (1901). Đây là tác phẩm ghi lại hầu hết những cuộc nổi dậy chống lại triều đình nhà Nguyễn từ khi Nguyễn Ánh lấy được Phú Xuân và đặt niên hiệu Gia Long (1802) cho đến khi Kiều Oánh Mậu soạn cuốn sách này (1901), nghĩa là đúng 100 năm. Năm 1902 Kiều Oánh Mậu cho xuất bản ở Hà Nội cuốn Đoạn trường tân thanh do ông bổ sung, đính chính và chú thích một cách tỉ mỉ. Ngoài ra, Kiều Oánh Mậu còn viết đề tựa cho cuốn Thang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, duyệt lại các sách Bút toán chỉ nam
Kiều Oánh Mậu mất năm 1912.

V.H.L.

KHUÔNG VIỆT ĐẠI SƯ (Ngô Chân Lưu, 933 – 1011)


Danh tăng đời nhà Đinh, pháp danh là Chân Lưu, không rõ tên thật của ông, lúc nhỏ ông theo học nho, sau đó ông đi tu theo dòng thiền Quang Bích ở chùa Khai Quốc, Ông nổi tiếng là người tinh thông Phật học và thông hiểu việc chính trị nên được vua Đinh Tiên Hoàng* trọng dụng và tin dùng. Năm 971 Ngô Chân Lưu được vua ban hiệu là Khuông Việt Đại Sư và giao cho giữ chức Tăng thống, đứng đầu các tăng lữ, hệ thống tăng quan trong triều. Ông thường tham dự việc triều chính, làm cố vấn cho vua. Dưới triều Lê, ông vẫn tiếp tục làm Quốc sư cho vua Lê Đại Hành*. Ông đóng góp nhiều ý kiến quan trọng giúp vua Lê Đại Hành trong cuộc kháng chiens chống quân Tống và sau đó thường giúp vua tiếp các sứ thần nước ngoài.
Ngô Chân Lưu còn là một nhà thơ. Tác phẩm nổi tiếng còn lại của ông là bài Vương Lang Quy. Đó là bài thơ ông vâng mệnh vua Lê Đại Hành làm để tiễn sứ thần nhà Tống là Lý Giác (năm 987).
Lê Quý Đôn đã viết về ông: “Chân Lưu từ điệu danh chấn nhất thời” (Điệu ca của Ngô Chân Lưu đã nổi danh một thời).

L.V.N.

Saturday, June 25, 2016

KHÚC THỪA DỤ (? – 907)


Người mở đầu công cuộc tự chủ của đất nước. Ông quê ở Hồng Châu (xã Cúc Bồ, huyện Ninh Thanh, Hải Hưng), là một hào trưởng có tính khoan hòa, hay thương người nên được dân chúng khâm phục, quý mến. Vào cuối thế kỷ thứ 9, nhà Đường ở Trung Hoa suy yếu, trong triều các phe phái tranh giành quyền lực với nhau. Viên Tiết độ sứ do nhà Đường cử sang cai trị đất Giao Châu (Việt Nam) là Độc Cô Tổn bị bãi chức, đày đi nơi khác. Đấy là viên Tiết độ sứ cuối cùng nhà Đường cử sang cai trị Giao Châu. Lợi dụng thời cơ khi chính quyền đô hộ như rắn mất đầu, Khúc Thừa Dụ đã khởi binh giành chính quyền và tự xưng là Tiết độ sứ. Triều đình nhà Đường buộc phải công nhận chức Tiết độ sứ và còn phong thêm tước cho ông. Tuy mang danh nghĩa là một quan chức của nhà Đường nhưng Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, đặt cơ sở cho nền độc lập dân tộc, chấm dứt về cơ bản ách thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc. Ông cũng mở đầu cho một đường lối ngoại giao khôn khéo với triều đình phong kiến phương Bắc: “độc lập thật sự, thần thuộc trên danh nghĩa”.
Ngày 23 tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất. Con trai là Khúc Hạo* tiếp tục sự nghiệp xây dựng nền tự chủ của dân tộc.

L.V.N.

KHÚC HẠO (? – 917)


Ông là con của Khúc Thừa Dụ*, thay cha làm Tiết độ sứ năm 907. Lúc bấy giờ nhà Hậu Lương vừa thành lập ở Trung Hoa vẫn nuôi mộng xâm lược lại đất nước ta. Trước tình hình đó, Khúc Hạo cố chăm lo xây dựng nền độc lập dân tộc, giữ vững đất nước. Đường lối cai trị của ông là: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Ông đã thi hành nhiều cải cách quan trọng: xây dựng một chính quyền dân tộc thống nhất từ trung ương cho đến xã, sửa đổi chế độ điền tô, thuế má vốn là những ách nặng nề nhân dân phải chịu dưới thời lệ thuộc nhà Đường. Dưới thời ông, bộ mặt đất nước đã bắt đầu đổi mới, đời sống nhân dân dễ chịu hơn trước. Công cuộc xây dựng nền tự chủ, thống nhất của ông mở ra một thời kỳ phát triển mới của xã hội Việt Nam, được những triều đại sau kế tục.
Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay, vẫn xưng là Tiết độ sứ.

L.V.N.

Monday, June 20, 2016

KHÔNG LỘ (? – 1119)


Vị cao tăng đời Lý, tổ sư nghề đúc đồng. Ông họ Dương, xuất thân từ một gia đình chái lưới, người xã Hải Thanh, huyện Giao Thủy (Hà Nam Ninh). Không Lộ thọ giới với quốc sư Thông Biện, thuộc Thiền phái Vô Ngôn Thông. Sau khi thành đạo, ông thường vân du các nơi và trở về ở tại chùa Nghiêm Quang, xã Hải Thanh quê nhà. Tương truyền ông không những tinh thông Phật giáo mà còn giỏi về pháp thuật. Có lần Thái tử nhà Tống ở Trung Hoa bị bệnh nan y, không ai chữa được phải nhờ đến ông sang giúp. Sau khi chữa lành bệnh, ông không nhận gì cả, chỉ xin một ít đồng về đúc chuông. Ông làm phép thu cả kho đồng đựng vào tay áo đem về đúc nhiều chuông lớn cho các chùa.
Theo truyền thuyết của nhân dân làng Đề Kiều (Hà Bắc) thì sư Không Lộ lấy đất nặn khuôn rồi nung đồng chảy rót vào. Lúc đầu ông đúc chậu, lư, đỉnh, sau đúc đến chuông. Giúp việc cho ông có hai chú tiểu là Phạm Quốc Tài, quê ở làng Đề Kiều và Trần Lục, quê ở làng Đông Mai. Khi hai chú tiểu đã thạo nghề, ông cho về quê để truyền nghề cho dân làng. Ngày nay thợ đúc đồng thờ sư Không Lộ cùng với sư Minh Không là những ông tổ của nghề.

L.V.N.

HUỲNH TỊNH CỦA (Paulus Của, 1834 – 1897)


Nhà biên khảo văn học. Ông còn có tên là Huỳnh Tịnh Trai, người tỉnh Bà Rịa (Đồng Nai). Ông học ở trường đạo Pulo – Pinang (Indonesia). Sau khi ra trường Paulus Của làm công chức cho Pháp, sau đó làm Đốc phủ sứ (1861). Sau này ông thay Trương Vĩnh Ký làm chủ bút “Gia Định Báo”, tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam do Pháp trợ cấp. Paulus Của viết khá nhiều sách trên nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Sách về khoa học xã hội của ông có hai loại. Loại phiên âm sang tiêng Việt những tác phẩm chữ Nôm như Quan Âm diễn ca (in 1903), Trần Sanh diễn ca (in 1905), Bạch Viên Tôn Các (in 1906), Thoại Khanh Châu Tuấn truyện (in 1906), Thơ mẹ dạy con (in 1913)… Loại sưu tầm, biên khảo, phóng tác như: Chuyện giải buồn (in 1886 – 1887), Gia Lễ (1886), Sách quan chế (in 1888), Đại Nam quốc âm tự vị (in 1893), Tục ngữ, cổ ngữ, cách ngôn (in 1896 - 1897)… Các sách về khoa học tự nhiên gồm có: Phép toán (arithmètique-1867), Phép đo (géomètrie – 1867), Phép đo (arpentage 1904).
Tác phẩm có giá trị nhất của Huỳnh Tịnh Của là bộ Đại Nam quốc âm tự vị (lúc đầu mang tiêu để Dictionaire Annamite) soạn trong những năm 1889 – 1893. Đây là một bộ sách khá đồ sộ và là đầu tiên của lãnh vực giải thích ngôn ngữ dân tộc Việt Nam tổng hợp hai nguồn ngôn ngữ: nguồn thơ văn bác học cổ điển và thơ văn bình dân. Do đó Đại Nam quốc âm tự vị của ông đã tập hợp được một kho từ vựng phong phú trên địa bàn cả nước, kể cả những từ cổ và là một tài liệu quý báu cho giới nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc

V.H.L.

Thursday, June 16, 2016

HUỲNH PHÚ SỔ (1919 – 1947)


Người sáng lập Phật giáo Hòa Hảo, sinh năm 1919 tại làng Hòa Hảo, tỉnh Châu Đốc (An Giang), cha là Huỳnh Công Bộ làm Hương Cả trong làng. Lúc nhỏ Huỳnh Phú Sổ học ở trường làng, sau đó tiếp tục học bậc tiểu học ở Tân Châu. Nhưng đến năm cuối của bậc tiểu học, Sổ bị bệnh, gần như bị lãng trí và phải nghỉ học, được cha mẹ đưa đến thầy Xồm, một người tu hành sống ẩn dật trên núi Cấm, nổi tiếng về tài chữa bệnh bằng bùa ngải để nhờ chạy chữa. Sổ qui y và ở lại chùa học kinh và học các bài vè, bài kệ của Đoàn Minh Huyên*, một nhà tu hành sống vào nửa đầu thế kỷ 19 được nhân dân vùng Hậu Giang rất tin tưởng và gọi là Phật Thầy Tây An. Huỳnh Phú Sổ cũng học cả thuật chữa bệnh của thầy. Sau khi thầy Xồm mất, Huỳnh Phú Sổ trở về làng Hòa Hảo.
Năm 1939, Huỳnh Phú Sổ tự nhận mình là hậu kiếp của Đức Phật Thầy Tây An, có trách nhiệm truyền bá một lý thuyết Phật giáo mới (tức Phật giáo Hòa Hảo). Ngày 18-5 âm lịch năm Kỹ Mão (1939) được xem là ngày khai đạo. Huỳnh Phú Sổ cho mọi người thấy ở mình có một sự biến đổi huyền bí sau một đêm mưa gió: từ một người bệnh hoạn đã trở thành người khỏe mạnh, nói năng hoạt bát, có tài xuất khẩu thành thi, có thể thuyết pháp hàng giờ không biết mệt, biết được những điều bí truyền của Phật Thầy và có khả năng dùng giấy vàng và các thứ lá cây để trị bệnh như Phật Thầy trước kia. Chẳng bao lâu sau, Huỳnh Phú Sổ nổi tiếng khắp các tỉnh Sa Đéc, Châu Đốc, Vĩnh Long, Long Xuyên, Cần Thơ. Số tín đồ đạo Hòa Hảo ngày càng đông. Người ta gọi Huỳnh Phú Sổ là “Phật Sống”, có người gọi là “Ông đạo khùng”.
Năm 1940, thực dân Pháp thấy Huỳnh Phú Sổ tạo được một lực lượng lớn ở Hậu Giang không có lợi cho họ nhất là vào lúc phát xít Nhật đã bắt đầu can thiệp vào Đông Dương nên bắt Sổ đưa sang Châu Đốc (giữa năm 1940), sau đó chuyển đến Sa Đéc, Kinh Xáng Xà No, Cần Thơ rồi đưa vào nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn) để quản thúc. Tại đây Huỳnh Phú Sổ thuyết phục được bác sĩ điều trị là Trần Văn Tâm theo đạo Hòa Hảo. Sổ cũng bắt liên lạc với quân Nhật. Tháng 5.1941, Pháp lấy tiếng đưa Huỳnh Phú Sổ về Bạc Liêu dưỡng bệnh nhưng thực sự là để giam lỏng tại đây.
Tháng 10.1942 hiến binh Nhật đưa Huỳnh Phú Sổ về Sài Gòn và trọng đãi. Đạo Hòa Hảo đã trở thành một lực lượng chính trị ở Nam Bộ với Đảng Dân Xã thân Nhật. Một số tín đồ Hòa Hảo lên Sài Gòn lập nên tổ chức bán quân sự được Nhật cung cấp vũ khí.
Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra trên cả nước dưới sự lãnh đạo của Việt Minh. Tại Nam Bộ đến cuối tháng 8.1945, chính quyền cách mạng được thành lập, tại khắp các địa phương dưới sự lãnh đạo cảu Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam Bộ tìm cách tập hợp các lực lượng để chống Pháp nhưng Huỳnh Phú Sổ không chịu hợp tác. Trước đó vào ngày 8.5.1945 lực lượng Hòa Hảo ở Hậu Giang huy động tín đồ định kéo về chiêm chính quyền Cần Thơ nhưng bị dẹp tan. Trong khi đó Huỳnh Phú Sổ trốn khỏi Sài Gòn để ẩn náu ở Đức Hòa rồi tìm đường về miền Tây Nam Bộ.
Huỳnh Phú Sổ mất tại Tân Phú (Đốc Vàng, Long Xuyên) ngày 16.4.1947 (25.2 Đinh Hợi). Huỳnh Phú Sổ để lại 5 quyển Sấm giảng (sau được tập họp trong Sấm giảng thi văn toàn bộ), 215 bài thi ký tên Sĩ Cuồng hay tên thật và 33 bài thuốc Nam.

L.V.N.

HUỲNH MẪN ĐẠT (1807 – 1883)


Nhà thơ yêu nước nổi tiếng ở Nam Bộ, người làng Tân Hội, huyện Tân Long, tỉnh Gia Định, thi đậu cử nhân năm Tân Mão (1831) và ra làm quan dưới triều Tự Đức*. Năm 1861 thực dân Pháp hạ được Đại đồn Chí Hòa rồi đem quân đánh Định Tường. Huỳnh Mẫn Đạt, lúc ấy đang giữ chức Án sát Định Tường, cùng Tuần phủ Nguyễn Hữu Thành, Tổng đốc Nguyễn Công Nhàn tổ chức chặn đánh cánh quân Pháp tiến theo rạch Bảo Định. Tuy nhiên, do quân đội triều đình mất tinh thần chiến đáu, thành Mỹ Tho đã mau chóng lọt vào tây quân Pháp. Huỳnh Mẫn Đạt và các quan có trách nhiệm bị triều đình cách chức, bắt giải về kinh trị tội nhưng sau đó ông được tha để theo Nguyễn Tri Phương lo đánh lấy lại Biên Hòa. Thế nhưng sau đó Triều đình Huế chịu nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Huỳnh Mẫn Đạt được cử làm Tuần phủ Hà Tiên. Khi cả sáu tỉnh Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp, ông cáo quan về sống tại Kiên Giang. Ông thường qua lại Bình Thủy (Cần Thơ) cùng bàn bạc, ngâm vịnh với người bạn tâm giao là Bùi Hữu Nghĩa*. Huỳnh Mẫn Đạt nổi tiếng giỏi thơ nôm. Mặc dù không trực tiếp tham gia nghĩa quân chống Pháp hay tích cự dùng văn thơ tiến công kẻ thù như Nguyễn Đình Chiểu*, Phan Văn Trị* nhưng ông đã nêu cao được thái độ bất hợp tác với thực dân, lòng yêu nước, sự ngưỡng mộ đối với những anh hùng đã hy sinh trong cuộc kháng chiến vệ quốc.
Tương truyền có lần ông lên Sài Gòn chơi, nhân đi qua Bồn Kèn (trước tòa nhà Ủy ban Nhân dân thành phố ngày nay), bất ngờ gặp Tôn Thọ Tường* đi xe song mã đến. Trước Tường và ông có quen biết. Ông không muốn gặp Tường nên vội núp sau một gốc cây bên đường. Thế nhưng Tường đã nhìn thấy, cho dừng xe lại chào hỏi. Huỳnh Mẫn Đạt làm một bài thơ tỏ ý phê phán Tường theo Pháp và nói lên thái độ không hợp tác của mình. Tường họa ngay lại để phân trần. Huỳnh Mẫn Đạt liền đọc thêm một bài thơ khẳng định lại ý mình:
“… Đã cam giấu mặt cùng non nước
Đâu dám nghiêng mày với ngựa xe
Chớ nói đổi dời sao cốt cách
Xưa nay nát giỏ hãy còn tre”.
Sau này Tường đã làm bài thơ Thà gặp cọp chẳng thà gặp bạn để nói đến buổi gặp gỡ đó.
Khi được tin Nguyễn Trung Trực* bị quân Pháp hành quyết (1868), Huỳnh Mẫn Đạt vô cùng đau xót và để tỏ lòng ngưỡng mộ sự hy sinh cao cả đó, ông đã làm bài Điếu Nguyễn Trung Trực. Bài thơ chữ Hán trong đó có câu:
“Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”
được mọi người truyền tụng.
Tác phẩm của ông nay còn lại một số bài khác như Cây dừa, Chó già, Mưa đêm, Chiêu Quân xuất tái, Kỹ nữ qui y…
Ngoài ra ông còn góp phần hiệu đính tuồng Kim thạch kỳ duyên do Bùi Hữu Nghĩa soạn (cũng có nhà nghiên cứu cho rằng chính ông là tác giả của tuồng này).
L.V.N.

Wednesday, June 15, 2016

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA


Con vua Trần Nhân Tông, em vua Trần Anh Tông. Năm 1301 Thượng hoàng Nhân Tông đi du lịch đến vương quốc Champa, được vua Chăm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) tiếp đãi tử tế. Để xây dựng mối hữu nghị Việt – Chăm, Nhân Tông hẹn gã Huyền Trân cho Chế Mân. Ít lâu sau Chế Mân sai người sang dâng vàng bạc và sản vật để xin cưới. Nhưng cho rằng đây là một cuộc hôn nhân không tương xứng, hoàng gia và triều thần quyết liệt chống lại cuộc hôn nhân Việt – Chăm này. Việc ấy kéo dùng dằng đến năm năm. Cuối cùng quá say đắm Huyền Trân, dù đã có hoàng hậu người Java, Chế Mân cắt hai châu Ô và Lý (tương đương với một phần ba vương quốc Champa) để làm lễ cưới. Hai châu Ô, Lý là một phần đất Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và Quảng Nam sau này. Trước lễ dẫn cưới ấy, vua Anh Tông thuận gả, thế là tháng sáu năm Bính Ngọ (1306) Huyền Trân xuống thuyền về nhà chồng, trở thành hoàng hậu Paramecvari. Bài ca Nam Bình diễn tả sự ra đi ấy như sau:
Nước non ngàn dặm ra đi, mối tình chi
Mượn màu son phấn, đền nợ Ô Ly
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần,
Nhưng trái với lời ca Nam Bình, Huyền Trân đã hưởng được hạnh phúc trong cuộc hôn nhân này.
Năm 1307 vua Anh Tông cho thu nhận hai châu Ô và Lý, đổi tên lại là Thuận Châu và Hóa Châu, sai Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và đặt quan cai trị. Cuộc hôn nhân chính trị của Huyền Trân đã đem lại cho nước Đại Việt vựa lúa Bình Trị Thiên, cửa biển chiến lược Tư Dung (Tư Hiền), đèo chiến lược Hải Vân.
Hạnh phúc của Huyền Trân chỉ hơn một năm thì Chế Mân đột ngột chết. Theo tục lệ Chăm, Huyền Trân phải bị hỏa thiêu theo vua. Để cứu em gái, vua Anh Tông sai Trần Khắc Chung* sang giả điếu tang, lén đưa Huyền Trân về cố quốc. Tương truyền rằng hành trình trở về kéo dài lênh đênh trên biển cả một năm trời vì mối nảy nở giữa Huyền Trân và Trần Khắc Chung.

Q.T.

HỒ XUÂN HƯƠNG


Nhà thơ nữ nửa đầu thế kỷ 19. Tiểu sử Hồ Xuân Hương chưa được biết đích xác, đầy đủ. Có tài liệu cho rằng bà người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Mẹ bà chỉ là một người vợ lẽ, cha mất sớm, bà sống với mẹ ở phường Khán Sơn, gần Hồ Tây, Hà Nội, về sau sống ở thôn Tiên Thị (cũng ở Hà Nội). Sách Giai nhân di mặc tả lại rằng Hồ Xuân Hương là một người tầm tước, mặt rỗ hoa, nước da ngâm đen.
Tương truyền bà có mở một hàng nước để thi tài với khách làng văn hầu qua đó mà kén bạn trăm năm. Có một lần ông Tri phủ Vĩnh Tường, người đã từng đậu Giải nguyên đi cùng với người em trai đến quán của bà. Hồ Xuân Hương ra đề nhưng ông Tri phủ chỉ viết được mấy chữ rồi ngồi cắn bút, Hồ Xuân Hương chế nhạo: “Nếu không làm được thơ, thì xin lui về nhà, chớ còn ngồi mãi đó cắn bút hay sao?” Ông Phủ then ngã lăn ra bất tỉnh. Người em phải cứu chữa. Khi tỉnh dậy, ông Phủ lại làm được thơ, được bà khen hay và bằng lòng kết duyên cùng ông nhưng phải làm lẽ vì ông đã có vợ. Song cuộc tình duyên này chỉ được hơn hai năm thì ông Phủ qua đời. Bà làm thơ khóc chồng.
… Hăm bảy tháng trời là mấy chốc?
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!
Vâng lời mẹ, bà lấy chồng lần thứ nhì là Tổng Cóc và vẫn lại làm bé:
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Năm thì mười họa nên chăng chớ,
Một tháng đôi lần, có cũng không…
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhẻ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong!
Sau đó bà lại góa chồng. An ủi cuộc đời, bà đi ngao du sơn thủy và làm thơ, ngâm vình. Có lần đi viếng cảnh chùa ở ngoại trấn Thanh Hóa, gặp hai văn nhân sính làm thơ, bà ra để tựa vịnh cái chuông mà hạ vần uông ở câu thứ hai. Hai văn nhân kia lúng túng ngọng nghịu không làm được, bà bèn đọc:
Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông,
Nó bảo nhau rằng: ấy cái uông.
Một trong những người bạn thường xướng họa với Hồ Xuân Hương là Phạm Đình Hổ*. Có nhiều giai thoại về việc xướng họa giữa hai người mà điển hình là lần Hồ Xuân Hương đê Chiêu Hổ chớ có trêu ghẹo mình:
Anh đồ tỉnh, anh đồ say?
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn này hang hùm chớ mó tay.
Thơ văn của Hồ Xuân Hương đặc biệt nêu lên những vấn đề của người phụ nữ trong xã hội phong kiến với phong cách trào phúng, châm biếm, diễu cợt dân gian:
Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm,
Một lạch đào nguyên nước chửa thông…
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng dở, ở không xong.
(Thiếu nữ ngủ ngày)
Tác phẩm của Hồ Xuân Hương vừa bằng chữ Hán vừa chữ Nôm nhu tập Lưu hương ký gồm 24 bài thơ chữ Hán và 26 bài thơ chữ Nôm (hiện có dư luận chưa công nhận đây là tác phẩm của Hồ Xuân Hương), Xuân Hương thi tập, Đồ Sơn bát vịnh…

Y.T và Q.t.

Sunday, June 5, 2016

HỒ TÔNG THỐC


Danh sĩ dời nhà Trần, quê ở Nghệ An nhưng ngụ tại Hưng Yên. Có tài liệu cho rằng ông thi đỗ Trạng nguyên vào năm 1372 dưới thời vua Trần Nghệ Tông, niên hiệu Thiệu Khánh thứ hai. Giỏi về thơ, phú và khoa chép sử, được người đời ngưỡng mộ, tiếng tăm ông rất lừng lẫy. Tương truyền trong một bửa tiệc vào dịp Nguyên Tiêu (15.1 âm lịch) ông đã sáng tác được 100 bài thơ. Ông tham chính, làm đến chức Hàn Lâm học sĩ vào đời Trần Phế Đế (1386) và từng đi sứ sang Trung Hoa. Trong chuyến đi sứ sang Trung Hoa ông để lại một bài thơ phê phán Hạng Võ đã đốt cung thất nhà Tần làm hủy diệt những di tích lịch sử, không đáng đấng bá vương.
Khi Hồ Quý Ly* diệt nhà Trần (1400) ông từ quan về ẩn, đến năm 81 tuổi mới mất.
Các tác phẩm của ông để lại phần nhiều bị thất truyền như Thảo nhan hiệu tần tập, Phú học chỉ nam. Riêng tác phẩm Việt sử cương mục được nhà sử học Ngô Sĩ Liên* đời nhà Lê đánh giá rất cao.

Q.T.

HỒ QUÝ LY (1336 - ?)


Tổ tiên là người Tích Giang (Trung Hoa) sang sinh sống ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), sau ông tổ bốn đời của Quý Ly dời ra Thanh Hóa làm con nuôi một gia đình họ Lê nên đổi ra họ Lê. Quý Ly có hai người cô đều lấy vua Trần Minh Tông, một người sinh ra Trần Phủ (sau là Trần Nghệ Tông), người cô khác sinh ra Trần Cảnh (Trần Duệ Tông). Khi Trần Nghệ Tông lên làm vua, Quý Ly được phong đến chức Khu mật đại sứ và rất được Nghệ Tông tin dùng. Năm 1372 Trần Nghệ Tông lên làm Thái thượng hoàng, Trần Cảnh lên ngôi vua, hoàng hậu Lê Thị lại là em họ của Hồ Quý Ly, uy quyền của Hồ Quý Ly trong triều rất lớn. Trần Cảnh chết trong trận đánh thành Đồ Bàn, con là Trần Nghiện (Trần Phế Đế, 1377-1388) lên nối ngôi. Trần Nghiện thấy Quý Ly chuyên quyền muốn trừ đi nhưng âm mưu bại lộ. Quý Ly bèn gièm với Nghệ Tông rằng Trần Nghiện chỉ là cháu, xưa nay thiên hạ bỏ cháu nuôi con chứ không ai nuôi cháu bỏ con. Nghệ Tông nghe lời, giáng Trần Nghiện xuống rồi cho thắt cổ chết, xong lập con út của mình lên làm vua là Trần Thuận Tông. Năm 1394 Nghệ Tông mất, Quý Ly làm Phụ chính Thái sư. Thuận Tông không thoát khỏi số phận của một vị vua không có thực quyền, năm 1398 bị Quý Ly ép phải nhường ngôi cho con chỉ mới ba tuổi là Trần Án (Trần Thiếu Đế) để đi tu nhưng sau đó cũng bị Quý Ly bức tử. Hai năm sau (1400) Quý Ly phế Trần Thiếu Đế, nhưng không giết vì là cháu ngoại của mình, tự xưng làm vua, lấy lại họ Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu. Làm vua chưa đầy năm, Quý Ly bắt chước theo tục nhà Trần, nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương để làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn nắm quyền trị nước.
Là một nhà kinh tế, chính trị có tư tưởng mới, Quý Ly đã thực hiện được nhiều công trình đáng kể, điển hình là cải cách sáng tạo vượt tính thời gian trong lãnh vực tài chánh: việc sử dụng tiền giấy thay cho tiền kim loại. Sử liệu cho ta biết chi tiết về tiền giấy thời Hồ như sau:
Tờ mười đồng: có hình cây rêu biển
ba mươi đồng: song
một tiền: đám mây
hai tiền: rùa
ba tiền: lân
năm tiền: phượng
một quan: rồng
Trong lãnh vực giáo dục, Quý Ly có những sáng kiến quan trọng như sửa đổi cách thức học hành và thi cử đồng thời đưa thêm môn toán pháp vao chương trình giáo dục và thi cử, giới nhà giáo được quan tâm đến một cách thiết thực: các quan làm giáo chức đều được cấp ruộng từ mười mẫu trở lên. Ngoài ra Quý Ly tổ chức lại quân đội, định lại các thứ thuế khóa, lập dinh điền, chú tâm đến việc cải tiến nước nhà, nhưng công cuộc cải cách đang dở đang thì quân Minh mượn cớ lập lại dòng dõi nhà Trần, đem quân sang đánh bắt được cả ba cha con Quý Ly, đem bỏ vào cũi giải về Trung Hoa (6-1407). Sau đó họ được tha cả nhưng vẫn ở tại Trung Hoa.

Q.T.

Wednesday, June 1, 2016

HỒ NGUYÊN TRỪNG


Nhà phát minh lớn vào đầu thế kỷ 15. Dù là con trai trưởng của Hồ Quý Ly* nhưng Hồ Nguyên Trừng không được nhường ngôi vì Hồ Hán Thương*, em cùng cha khác mẹ với Hồ Nguyên Trừng là cháu ngoại của vua Trần Minh Tông, có thế chính trị hơn. Về sự kiện này, Ngô Thời Sĩ* trong Việt sử tiêu án có kể lại rằng: Để dọ ý Hồ Nguyên Trừng trong việc lập Hồ Hán Thương, Hồ Quý Ly bèn ra câu đối cho các con, đầu đề là cái nghiên đá: “Thử nhất, quyền kỳ thạch, hữu thời vi vân vũ dĩ nhuận sinh dân (phiến đá kỳ lạ này có lúc làm mây mưa để làm ơn cho dân – tỏ là khí độ vua). Hàm ý của Hồ Quý Ly là muốn biết chí khí của các con. Hồ Nguyên Trừng biết ý của cha, mới đáp lại: “Giá tam thốn tiểu tùng tha nhật tác đống tác lương kham phò xã tắc” (Ba tấc gỗ thông này một ngày kia sẽ làm rường cột giúp xã tắc – tỏ là chí khí bày tôi) để tỏ cho Hồ Quý Ly biết chí của mình chỉ muốn làm người giúp xã tắc thôi. VÌ thế Hồ Quý Ly yên tâm lập con thứ làm Thái tử.
Khi quân Minh sang đánh Đại Việt năm 1407, Hồ Nguyên Trừng được lệnh đóng giữ ở Hoàng Giang (khúc sông Hồng thuộc về huyện Nam Xang, Hà Nam). Mộc Thạnh biết được, bèn đem quân thủy lực cùng tiến lên hạ trại ở sông Mộc Phàm (làng Mộc Phàm, huyện Phú Xuyên tiếp với Hoàng Giang). Hồ Nguyên Trừng đem ba trăm chiến thuyền ra đánh, bị quân của Mộc Thạnh ở hai bờ sông đánh úp lại, Hồ Nguyên Trừng thua phải chạy về của Muộn Hải (Giao Thủy, Nam Định), gặp các tướng nhà Hồ để cùng bàn định kế hoạch phá địch nhưng quân Minh ập đến, Trừng phải chạy ra cửa Đại An (phủ Nghĩa Hưng). Quân Minh ở Muộn Hải bị bệnh phải rút về đóng ở Hàm Tử. Nguyên Trừng bèn rước Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương lúc ấy ở Tây Đô ra rồi lại trở lên Hoàng Giang chống giữ. Trong trận Hàm Tử, quân nhà Hồ bị diệt tan tành, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương thua chạy đến của Kỳ La (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh) thì bị quân Minh bắt được, đưa về Kim Lăng (Trung Hoa). Hồ Nguyên Trừng cũng cùng chung số phận. Tại Trung Hoa, Hồ Nguyên Trừng dâng lên vua Minh phương pháp chế tạo sung thần công, một sáng chế đầu tiên trên thế giới về khí giới hạng nặng. Ông được vua Minh phong cho chức Thượng thư Bộ Lễ. Sau đó Trừng xin ân xá cho Hồ Quý Ly, nhờ thế Hồ Quý Ly được thả và sinh sống ở Trung Hoa cho đến chết.
Ngoài việc sáng chế nên sung thần công, Hồ Nguyên Trừng còn là tác giả của tác phẩm văn chương nổi tiếng Nam Ông Mộng Lục viết về 31 nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.
Theo sách Việt sử thông giám cương mục Hồ Nguyên Trừng được vua Minh cất nhắc lên chức Thượng thư Bộ Công.

Q.T.

HỒ HÁN THƯƠNG


Con thứ của Hồ Quý Ly*, cháu ngoại của vua Trần Minh Tông, mẹ là công chúa Huy Ninh. Năm 1400 Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần, gần được một năm thì nhường ngôi cho Hồ Hán Thướng. Lên ngôi xong, Hồ Hán Thương sai sứ sang nhà Minh cáo rằng họ Trần đã tuyệt tự hết rồi, cho nên Hán Thương là cháu ngoại lên thay, tạm giữ quyền điều hành quốc sự. Nhà Minh phong cho Hán Thương làm An Nam Quốc Vương. Hồ Hán Thương lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Thành (1401 – 1402) và Khai Đại (1403 – 1407), tuy làm vua nhưng mọi việc quyết đoán Hồ Hán Thương đều giao cho Hồ Quý Ly cả.
Bấy giờ có một người tên Trần Thiêm Bình, tự xưng là con vua Trần Nghệ Tông sang Trung Quốc tố cáo việc họ Hồ tiếm ngôi và xin vua nhà Minh cho quân sang đánh Đại Ngu (Quốc hiệu do Hồ Quý Ly đặt vào năm 1400). Vua Minh sai tướng cùng 5.000 quân đưa Thiêm Bình về nước (1406). Hồ Hán Thương cho người đón ở cửa Chi Lăng, bắt Trần Thiêm Bình giết đi rồi một mặt sai sứ sang nhà Minh biện bạch việc Thiêm Bình nói dối, xin theo lệ tiến cống như cũ, một mặt cho tăng cường phòng thủ, mộ thêm lính, đóng cừ ở phía Nam sông Nhị Hà dài đến hơn 700 dặm.
Dù đã chuẩn bị đề phòng nhưng quân nhà Hồ không chống nổi được cuộc xâm lăng của đại quân Minh do các danh tướng Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân chỉ huy. Hồ Hán Thương cùng gia quyến bị bắt đưa về Kim Lăng (Trung Quốc – 1407) rồi chết ở bên ấy.

Q.T.

Sunday, May 29, 2016

HỒ CHÍ MINH (1890-1969)


Người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác-Leenin và Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (1945-1969), nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào cộng sản, nhà văn hóa lớn của thế giới, tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung sau đổi tên là Nguyễn Tất Thành, Văn Ba, Nguyễn Ái Quốc, Chen Vang, Li nốp, Lý Thụy… cùng nhiều bí danh và bút danh khác, quê làng Kim Liên, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ Tĩnh), sinh ngày 19.5.1890 tại quê ngoại làng Hoàng Trù (cùng xã Chung Cự), trong một gia đình nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thân sinh là Nguyễn Sinh Sắc (sau lấy tên Nguyễn Sinh Huy) đỗ Phó bảng năm Tân Sửu (1901),làm Thừa biện Bộ Lễ trong triều đình Huế, rồi tri huyện Bình Khê (Bình Định) năm 1909, bị bãi chức làm thường dân sống bằng nghề dạy học và làm thuốc. Thân mẫu là Hoàng Thị Loan, con một gia đình nhà nho, làm nghề nông và dệt vải.
Năm 1895, Người cùng với gia đình vào sống ở Huế và được học chữ Hán ở đây. Ngày 10.2.1901, thân mẫu của Người qua đời ở Huế, Người về sống ở quê nhà và tiếp tục học chữ Hán. Cuối năm 1904 Người theo cha vào Huế lần thứ hai vào học tại trường Tiểu học Đông Ba (1905 – 1907). Tháng 5.1908 khi đang học Trường Quốc học Huế, Người tham gia cuộc đấu tranh chống thuế của nông dân ở đây nên bị đuổi học. Người đi vào các tỉnh phía nam, có một thời gian với tên gọi là Nguyễn Tất Thành, Người dạy học ở trường Dục Thanh tại Phan Thiết (1910). Năm sau (1911) Người vào Sài Gòn. Ngày 5.6.1911, lấy tên là Văn Ba, Người rời cảng Nhà Rồng trên tàu Amiral Latouche Tréville của hang Chargeurs Réunies. Vừa làm phụ bếp, Người tận dụng mọi thời gian để học hỏi, tìm tòi trong sách báo và những thủy thủ trên tàu. Từ 1911 đến 1917 Người đã đi qua nhiều nước, sống ở nhiều nơi và làm nhiều nghề. Sau một thời gian sống ở Anh (từ 1914), thàng 6.1917 Người đến nước Pháp, tham gia Hội người Việt Nam yêu nước. Dến năm 1919, bản Yêu sách của nhân dân An Nam của Người gửi đến Hội nghị Versailles đã gây tiếng vang lớn. Cuối năm 1918, Người tham gia Đảng Xã Hội Pháp. Tại Đại hội 18 của Đảng Xã Hội Pháp họp ở Tours tháng 12.1920 Người bỏ phiếu tán thành Quốc Tế Thứ Ba, người trở thành một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng Sản Pháp. Người tham gia sáng lập Hội Liên Hiệp Thuộc Địa (10.1921), sáng lập và làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo “Người Cùng Khổ” (Le Paria) xuất bản ở Paris. Thời gian ở Pháp Người viết rất nheiefu bài đăng trên các báo “Nhân Đạo” (L’Humantié) và “Người Cùng Khổ” để tố cáo chính sách cai trị và bóc lột của chủ nghĩa đế quốc ở các thuộc địa. Đặc biệt, một số bài viết trong thời gian này sau đó tập hợp và xuất bản thành Bản án chế độ thực dân Pháp (1925). Đây “Công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương (1962) và vở kịch “Con rồng tre” (1922) đã gây được tiếng vang lớn. Năm 1923, Người đến Liên Xô tham dự Đại hội lần thứ nhất Quốc Tế Nông Dân ở Moskva và được bầu vào Đoàn Chủ Tịch Ban Chấp Hành Quốc Tế Nông Dân. Cuối năm đó, Người vào học Trường Đại Học Phương Đông. Cuối năm 1924 được cử làm ủy viên Bộ Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam của Quốc Tế Cộng Sản, với tên là Lý Thụy, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc) chuẩn bị cho sự thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam: tổ chức các đoàn thể như Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (6.1925), Thiếu Niên Tiền Phong, Tổ Phụ Nữ Cách Mạng (1926), sáng lập báo “Thanh Niên” (6.1925), báo “Công Nông” (7.1926). Người còn tham gia sáng lập Hội Liên Hiệp các Dân Tộc Bị Áp Bức ở Á Đông (1925) và được bầu làm Bí thư của Hội. Những bài giảng trong các lớp học chính trị của Người sau này được Hội xuất bản dưới tên gọi “Đường Kác Mệnh” (1927). Tháng 4.1927 Người đi Liên Xô. Mùa thu 1928, với tên gọi Thầu Chín, Ngườ hoạt động ở nhiều nơi trên đất Thái Lan để tuyên truyền tinh thần yêu nước trong Việt kiều. Cuối năm 1929 Người trở lại Trung Quốc chuẩn bị cho hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam. Người thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ ngày 3 đến 7.2.1930 Người thay mặt Quốc Tế Cộng Sản chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Cửu Long gần Hồng Kông (Trung Quốc). Ngày 6.6.1931 dưới tên là Tống Văn Sơ, Người bị chính quyền Anh ở Hồng Kông bắt đến tháng 1.1933 mới được trả tự do nhờ sự can thiệp của Quốc Tế Cứu Tế Đỏ và ông bà luật sư Loseby. Người đến Liên Xô và vào học Trường Quốc Tế Lênin (10.1934). Trong hai năm 1936 – 1937 Người là nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên Cứu Các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Tháng 10.1938 Người trở lại hoạt động trong Bát Lộ quân Trung Quốc ở Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây. Ở đây Người viết cuốn Khu vực đặc biệt, viết nhiều bài báo ký tên P.C.Line và Line gửi về đăng trên báo “Tiếng Nói của Chúng ta” (Notre voix) để chỉ đạo cách mạng trong nước. Ngày 8.2.1941, Người trở về Tổ Quốc sau hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Lúc đầu Người sống ở hang Cốc Pó, sau chuyển ra một lán nhỏ bên suối Khuổi Nậm cũng tại Pắc Bó, xã Trường Hà, Hà Giang, Cao Bằng. Ngày 19.5.1941, Người sáng lập Việt Minh Độc Lập Đồng Minh (Việt Minh) và báo “Việt Nam Độc Lập” (1.8.1941). Người viết nhiều bài đăng trên báo này để vận động quần chúng làm cách mạng, trong đó phải kể đến bài Lịch sử nước ta (2.19422) mà Người tiên đoán năm 1945 cách mạng Việt Nam nhất định thắng lợi. Trong thời gian ở Pắc Bó, Người làm những vần thơ đẹp:
“Non xa xa nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là,
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”
“Pắc Bó hùng vĩ)
Tháng 8.1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc liên lạc với lực lượng cách mạng ở đó, nhưng bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giữ trong hơn một năm. Trong tù, Người sáng tác tập thơ chữ Hán nổi tiếng “Nhật ký trong tù” (Ngục trung nhật ký) gồm 133 bài phần lớn là tứ tuyệt. Bốn câu thơ ở trang đầu phần nào thể hiện nội dung chính trong tác phẩm của Người:
“Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao,
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao”
Tháng 7.1944, Người trở về Pắc Bó, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 22.12.1944, Người sáng lập Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân. Tại Quốc Dân Đại Hội tại Tân Trào (Tuyên Quang) Người được bầu làm Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời và viết Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa (8.1945). Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2.9.1945 tại Quảng trường Ba Đình, trước 50 vạn nhân dân Hà Nội, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập do tự tay Người viết, khai sinh ra nước Việt Nam mới. Người chấp nhận cho một số Đảng phái đối lập tham gia chính quyền (12.1945), ký các văn bản với Pháp như Hiệp định sơ bộ 6.3.1946 và Tạm ước 14.9.1946, tổ chức Tổng tuyển cử thành công bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong cuộc Tổng tuyển cử, Người đứng ra ứng cử ở Hà Nội, và trúng cử với số phiếu cao nhất: 98,4%, Quốc hội tôn Người là Người công dân thứ nhất. Trước những âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp, Người ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19.12.1946) kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam đứng lên chống Pháp: “Không, chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Sau đó, Người lên Việt Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến. Với bút danh Tân Sinh, Người viết tác phẩm Đời sống mới (3.1947), vận động xây dựng cuộc sống mới ở vùng giải phóng. Tháng 10.1947, Người viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, một tác phẩm xây dựng và rèn luyện tư tưởng, đạo đức cách mạng, tác phong quần chúng và phương pháp lãnh đạo cho cán bộ, đảng viên. Trong 8 năm, Người đã cùng Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam lãnh đạo quân và dân Việt Nam đánh thắng thực dân Pháp trong nhiều chiến dịch mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ (13.3 đến 7.5.1954) đưa đến việc ký kết Hiệp định Genève, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Sau hiệu định Genève, Người trở về Hà Nội. Tại Đại hội lần thứ ba của Đảng Lao Động Việt Nam, Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. Với cương vị cao nhất về Đảng cũng như Nhà nước, nhưng Người luôn luôn khiêm tốn, giản dị, sống cuộc đời rất thanh bạch. Người chỉ có mấy bộ đồ kaki để dùng trong việc giao tiếp khách, trong các ngày lễ, còn khi tiếp xúc với quần chúng Người thường bận bộ quần áo nâu giản dị, chân đi đôi dép cao su đã mòn gót, ở trong một ngôi nhà sàn bằng gỗ với đồ dùng sinh hoạt đơn sơ. Khi đế quốc Mĩ đưa không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, Người ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Vì những công lao to lớn đối với dân tộc, đối với phong trào đấu tranh giải phóng của nhân dân lao động trên thế giới, Người được Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quyết định tặng Huân chương Sao Vàng nhưng Người đã đề nghị để đến ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tổ quốc thông nhất, Nam Bắc một nhà, lúc đó Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho Người huân chương cao quý đó (1963). Ngày 4.11.1966 Đoàn Chủ Tịch Xô Viết Tối Cao Liên Xô quyết định tặng Huân chương Lênin, nhưng Người cũng đề nghị hoãn việc trao tặng phần thưởng cao quý ấy với lý do: “Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại biểu cho toàn thể đồng bào chúng tôi trân trọng và vui mừng lãnh lấy huân chương mang tên Lênin vĩ đại”. Mặc dù tuổi cao, những năm cuối đời Người vẫn ra sức làm việc, mang hết tâm huyết ra lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Để chuẩn bị cho cuộc ra đi vào cõi vĩnh hằng của mình, từ tháng 5.1965 Người bắt đầu viết bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân Việt Nam. Bản Di chúc được Người viết và sửa chữa nhiều lần (tháng 5.1968 và 5.1969) trong đó Người thể hiện sự quan tâm của mình đến mọi đoàn thể, tầng lớp, mọi giới và niềm tin vào sự thắng lợi, vào tương lại của dân tộc.
“Còn non còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”
Hồi 9 giờ 47 phút ngày 2.9.1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh mất tại Hà Nội sau một cơn đau tim đột ngột, thọ 79 tuổi. Ngày nay thi hài Người được quàn trong lồng kín đặt trong Lăng của Người ở Quảng trường Ba Đình Hà Nội. Một bảo tang lớn mang tên Người được xây dựng gần Lăng. Thành phố Sài Gòn và nhiều đường phố trong các thành phố trên thế giới mang tên Hồ Chí Minh. Những tác phẩm Người được tập hợp và xuất bản thành bộ Hồ Chí Minh toàn tập (10 tập) và rất nhiều tác phẩm của Người trong các lĩnh vực khác nhau được xuất bản. Tháng 11.1987, tổ chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc (UNESSCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là Danh Nhân Văn Hóa của thế giới.

V.H.L.

HỌC LẠC (Nguyễn Văn Lạc, 1842 – 1915)


Nhà thơ trào phúng ở miền Nam, tên thật là Nguyễn Văn Lạc, biệt hiệu Sầm Giang, quê ở xã Mỹ Chánh, tỉnh Định Tường. Ông là người thông minh, học giỏi nhưng thi không đậu (cũng có tài liều nói là ông học giỏi nhưng không đi thi). Trước sau ông vẫn là người học trò nên thường được gọi là Học Lạc. Ông vóc người nhỏ, thấp, nước da trắng, không râu, tiếng nói sang sảng như chuông. Học Lạc không những giỏi về thơ văn mà còn thảo cả về đàn, họa, biết nghề bốc thuốc và bói Dịch.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ (1861), con đường khoa cử dở dang, ông dời về sống ở chợ Thuộc Nhiêu (tỉnh Định Tường) mở trường dạy học và bốc thuốc sống qua ngày. Tuy không trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng ông là một trong những nhà nho đầu tiên bày tỏ thái độ bất hợp tác với chính quyền thực dân.
Thơ của Học Lạc có nhiều bài phản ánh cuộc sống nơi quê hương của ông như bài Mỹ Tho tức cảnh, Thuộc Nhiêu tức cảnh. Ông sáng tác nhiều bài thơ trào phúng để đả kích nhóm hợp tác với thực dân Pháp, bọn cường hào và các hương chức hống hách như bài Ông làng hát bội, Chó chết trôi, Ngồi trăng hoặc Con tôm:
Chẳng phải vương công chẳng phải hầu,
Học đòi đái kiếm lại mang râu.
Khoe khoang mắt đỏ trong dòng bích,
Chẳng biết mình và cứt lộn đầu”.
Có lần vào ngày lễ Kỳ Yên, Học Lạc đem mâm xôi ra đình cúng. Thay vì đề chức tước, tên họ, ông chỉ ghi hai chữ “Thằng Lạc”. Hương chức thấy thế liền sai bắt phạt. Ông làm bài Tạ hương đảng để thanh minh cho mình.
Ông mất năm 1915 thọ 73 tuổi.

L.V.N.

Thursday, May 26, 2016

HOÀNG VĂN THỤ (1906-1944)


Nhà cách mạng, còn có tên là Hoàng Đình Hưng, sinh năm 1906 ở xã Nhân Lý, châu Điềm He, tỉnh Lạng Sơn (Văn Uyên, Lạng Sơn). Ông là người dân tộc Tày, tham gia cách mạng từ lúc còn rất trẻ. Năm 1926, ông sang Long Châu, Trung Quốc làm nhiều nghề như “mãi võ bán thuốc cao”, cắt tóc, cùng một số người lập xưởng cơ khí Nam Hưng. Năm 1929, ông được kết nạp vào Đông Dương Cộng Sản Đảng. Ông còn tham gia Hồng quân Trung Quốc khi Hồng quân kéo vào Long Châu, ông giữ chức Trung úy (1932). Năm 1935, sau khi dự Đại hội Toàn quốc lần thứ nhất của Đảng Cộng Sản Đông Dương họp ở Ma Cao (Trung Quốc), ông về Việt Bắc hoạt động, làm Chủ bút báo “Tranh Đâu”, cơ quan phản đế miền thượng du. Năm 1939, Hoàng Văn Thụ được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ. Tháng 12.1940, ông được Đảng cử sang gặp Nguyễn Ái Quốc ở Tĩnh Tây, Quảng Tây (Trung Quốc) để đón Người về nước. Tháng 5.1941, trong Hội nghị Trung ương lần thứ tám của Đảng họp ở rừng Khuổi Nậm (Cao Bằng), Hoàng Văn Thu được bầu và Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. Ngày 19.5.1941, ông được cử vào Ban Chấp Hành Lâm thời Tổng bộ Việt Minh. Sau đó ông về Hà Nội hoạt động. Ông còn sáng tác thơ văn đăng trên các báo bí mật hồi đó như “Cờ Giải Phóng”, “Việt Nam Độc Lập”. Tháng 8.1943, Hoàng Văn Thụ bị thực dân Pháp bắt ở khu Tám Mái, Hà Nội. Sau khi dùng nhiều cự hình tra tấn, dùng mọi cách dụ dỗ mua chuộc không được, quân Pháp đã đưa ông ra xử bắn tại Trường bắn Bạch Mai, Hà Nội ngày 24.5.1944.

V.H.L.

HOÀNG TĂNG BÍ (1883 – 1939)


Nhà lãnh đạo phong trào Đông Du, tự Nguyên Phu, bút hiệu Tiểu Mai. Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng ở làng Đông Ngạc (tức làng Vẽ), phủ Hoài Đức, Hà Đông (Từ Liêm, Hà Nội), đậu Á nguyên năm Bính Ngọ (1906).
Năm 1907 trong thời gian sơ khai của phong trào Đông Du, ông cùng với Nguyễn Quyền hô hào, diễn thuyết khắp nơi để thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân. Ông được cử vào ban soạn sách giáo khoa và giảng dạy của trường Đông Kinh Nghĩa Thục, quản lý nhà buôn Đông Thành Xương, chuyên bán hàng nội hóa ở phố Hàng Gai (Hà Nội) để lấy tiền trợ cấp cho học sinh trong phong trào Đông Du. Sau vụ đầu độc ở Hà Nội (1908), trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, Hoàng Tăng Bí bị bắt giam ở Hỏa Lò (Hà Nội) một thời gian, ông tự học tiếng Pháp và toán học; viết vở tuồng “Đệ bát tài tử Hoa tiên ký” (1913). Sau khi thi đỗ Phó bảng (1916), thực dân Pháp và nhà Nguyễn muốn ép ông ra làm quan nhưng ông từ chối.
Ông mở trường dạy Pháp văn, toán học và một số môn học khác. Năm 1924, hết hạn quản chế, ông về Hà Nội làm báo và viết sách, tham gia Biên tập báo “Trung Bắc Tân Văn”, dạy Việt văn ở trường tư thục Gia Long, nhưng mới được hai, ba tháng thì bị Sở Mật thám Hà Nội cấm. Thời gian này ông viết tuồng lấy đề tài trong văn học và lịch sử dân tộc như Nghĩa nặng tình sâu (tức Mỵ Châu Trọng Thủy), “Thù chồng nợ nước” (lấy đề tài Hai Bà Trưng khởi nghĩa) để kích thích lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Ông còn dịch một số sách tiểu thuyết Pháp, sách và lịch sử Trung Quốc thời Xuân Thu. Lúc già yếu, ông về sống ở quê nhà, tại làng Vẽ và mất vào tháng 3 năm 1939.

V.H.L.